Hà Nội, Ngày 19/02/2020

Giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Ngày đăng: 04/11/2019   04:05
Mặc định Cỡ chữ
Đóng góp tham luận tại Hội thảo khoa học "Nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới và tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý" vừa được Bộ Nội vụ tổ chức tại Hà Nội, Bộ Khoa học và Công nghệ đã nêu lên thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào hoạt động khoa học và công nghệ.
Hội thảo thu hút sự tham gia của đại diện nhiều bộ, ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương.

Thực trạng sự tham gia của phụ nữ vào hoạt động khoa học và công nghệ

Trong khoảng 10 năm gần đây, tỷ lệ cán bộ nữ tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học đã tăng lên đáng kể. Tỷ lệ nữ giáo sư đã tăng 1,8 lần sau 8 năm (từ 2007 đến 2015); nữ phó giáo sư tăng 2,52 lần.

Mặc dù nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam có sự gia tăng về số lượng (chiếm khoảng 46% tổng số nhân lực nghiên cứu phát triển của cả nước), song cơ cấu chưa ổn định, không đều ở các lĩnh vực, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Nguồn nhân lực nữ có trình độ đại học và sau đại học không tiếp tục học tập, nghiên cứu còn chiếm tỷ lệ cao vì sau khi tốt nghiệp, đa phần phụ nữ lập gia đình, sinh con và chăm sóc con.

Tỷ lệ nữ tham gia nghiên cứu khoa học và có các công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế còn thấp hơn nhiều so với nam giới. Chỉ có 20% các chương trình quan trọng quốc gia về khoa học và công nghệ do phụ nữ làm chủ nhiệm. Tỷ lệ cán bộ khoa học nữ được trao các giải thưởng khoa học và công nghệ lớn rất ít. Chẳng hạn, năm 2016, chỉ có 03 nhà khoa học nữ được trao giải thưởng Hồ Chí Minh trong tổng số 64 nhà khoa học được trao giải này; 11 nhà khoa học nữ được trao giải thưởng Nhà nước trong tổng số 68 nhà khoa học được trao giải; 01 nhà khoa học nữ được trao giải thưởng Trần Đại Nghĩa trong tổng số 12 nhà khoa học đoạt giải thưởng. Từ năm 2014 đến nay, chỉ có 01 nhà khoa học nữ được trao giải thưởng Tạ Quang Bửu trong tổng số 17 nhà khoa học được trao giải này…

Về chính sách đối với cán bộ khoa học nữ hiện nay

Mặc dù chính sách hiện nay không có rào cản đối với cán bộ nữ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, nhưng hạn chế lớn nhất là quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện các chính sách này chưa tính đến đặc thù, những khó khăn, thách thức đối với phụ nữ trong hoạt động khoa học và công nghệ, cụ thể đó là:

Thứ nhất, thách thức từ định kiến của xã hội và những quan niệm truyền thống: các định kiến về vai trò của phụ nữ, đặc biệt là vai trò của nữ trí thức như: phụ nữ không nên học cao, không nên lựa chọn các ngành nghề kỹ thuật, không nên đi công tác xa… Đây chính là những rào cản tác động trực tiếp đến cán bộ khoa học nữ, bởi đặc thù của công việc này gắn với việc nghiên cứu, tìm tòi, hướng đến những vấn đề mới, có tính sáng tạo.

Thứ hai, những khó khăn do phải thực hiện thiên chức của người phụ nữ trong gia đình. Do đó, việc áp dụng chính sách chung cho cán bộ khoa học (cả nam và nữ) về bản chất là chưa bình đẳng trong hoạt động khoa học và công nghệ.

Thứ ba, quy định phụ nữ tuổi nghỉ hưu của phụ nữ sớm hơn nam giới 05 năm cũng là một yếu tố tác động tới quá trình nghiên cứu khoa học của cán bộ nữ, trong khi hoạt động nghiên cứu là công việc có thể gắn bó suốt đời với người làm khoa học. Mặt khác, quy định về độ tuổi quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ nữ hiện nay cũng gây khó khăn cho cán bộ nữ nói chung, cán bộ khoa học nữ nói riêng.

Giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào hoạt động khoa học và công nghệ

Một là, nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò của phụ nữ nói chung và phụ nữ trong hoạt động nghiên cứu khoa học nói riêng. Bên cạnh việc tăng cường tuyên truyền, cần đưa nội dung này vào các chương trình giáo dục cơ bản; có chính sách đãi ngộ xứng đáng cho các nhà khoa học nữ.

Hai là, cần xây dựng khung thể chế hữu hiệu nhằm bảo vệ quyền của phụ nữ và hỗ trợ phụ nữ tham gia lao động, đặc biệt là tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học gắn với những đặc điểm tự nhiên, đời sống xã hội của phụ nữ nhằm đảm bảo các chính sách pháp luật phù hợp với thực tế và thông lệ quốc tế. Có thể nghiên cứu thí điểm một chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia áp dụng cho các nhà khoa học nữ có thành tích xuất sắc để khuyến khích sự phát triển các nhà khoa học nữ.

Ba là, thực tế hiện nay, chủ nhiệm các đề tài phần lớn là các nhà khoa học nam, đặc biệt là các đề tài trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ. Do đó, cần tăng cường giao các đề tài, dự án cho các nhà khoa học nữ để sử dụng tài năng của họ một cách tối đa. Bên cạnh đó cần tạo môi trường nghiên cứu khoa học hiện đại, dân chủ; chú trọng đến việc tôn vinh tài năng của cán bộ khoa học nữ.

Bốn là, hiện nay vẫn còn nhiều cơ quan nghiên cứu e ngại việc tuyển dụng phụ nữ làm công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt là phụ nữ trong độ tuổi sinh con. Do đó, việc lựa chọn và tuyển dụng người làm việc trong lĩnh vực khoa học và công nghệ cần đảm bảo sự công bằng giữa phụ nữ và nam giới về cơ hội phát triển cũng như đóng góp tài năng. Tăng cường trao quyền lãnh đạo cho phụ nữ sẽ giúp họ tự tin hơn, khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động khoa học và công nghệ.

Năm là, tác dụng của giáo dục và đào tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó ảnh hưởng đến sự phát triển trong tương lai của lực lượng lao động. Vì vậy, tăng cường đầu tư cho giáo dục và đào tạo đối với phụ nữ sẽ thúc đẩy sự phát triển toàn diện nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học trước mắt cũng như lâu dài./.

Trần Kiên

Tin tức cùng chuyên mục

Vai trò của khoa học tổ chức đối với tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam

Ngày đăng 17/02/2020
Khoa học tổ chức có đối tượng nghiên cứu là cấu trúc, chức năng, hệ thống quy luật, nguyên tắc vận hành và các điều kiện cần và đủ để tổ chức đạt được hiệu quả hoạt động, do đó có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức. Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước hiện nay, việc nghiên cứu và vận dụng những quan điểm, nguyên tắc của khoa học tổ chức vào việc hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước là rất cần thiết.

Quy định số 214-QĐ/TW có ý nghĩa quan trọng đối với công tác cán bộ trước thềm Đại hội XIII của Đảng

Ngày đăng 11/02/2020
Cùng với việc tiếp tục gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Quy định số 214-QĐ/TW là cơ sở quan trọng để nhận xét, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, giới thiệu cán bộ ứng cử chính xác và khách quan, chuẩn bị nhân sự cho đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng.

Tầm quan trọng của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược

Ngày đăng 10/02/2020
Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác cán bộ, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Bài viết tập trung bàn về tầm quan trọng của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược - nhiệm vụ then chốt trong công tác xây dựng đảng, cần có quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị.

Tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình nhằm tránh giảm sốc thị trường lao động và ứng phó quá trình già hóa dân số ở Việt Nam

Ngày đăng 10/02/2020
Kỳ họp thứ Tám, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi năm 2019). Đây là Bộ luật được dư luận xã hội, đặc biệt là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hết sức quan tâm, nhất là về việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu theo quan điểm của Đảng trong Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu. Bài viết cung cấp những thông tin về vấn đề này nhằm tạo sự thống nhất cao trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện Bộ luật Lao động (sửa đổi).

Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức nữ ở Việt Nam

Ngày đăng 06/02/2020
Việt Nam là một trong những nước tích cực thực hiện bình đẳng giới trong xây dựng chính sách, pháp luật, đã phê chuẩn và chính thức trở thành thành viên của CEDAW (Công ước quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979) vào năm 1982. Việc thúc đẩy bình đẳng giới và vấn đề lồng ghép bình đẳng giới đối với đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức nữ trong xây dựng pháp luật là điều cần thiết, nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương, đồng thời đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và pháp luật quốc tế về bình đẳng giới.