Hà Nội, Ngày 23/09/2019

Bộ Nội vụ với công tác xây dựng chế độ chính sách đối với cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc

Ngày đăng: 28/08/2019   06:28
Mặc định Cỡ chữ
Sau Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết, Bộ Nội vụ chuyển từ chiến khu về Hà Nội để bắt tay vào việc xây dựng, củng cố bộ máy hành chính nhà nước Trung ương, chỉ đạo xây dựng củng cổ chính quyền địa phương; tổ chức tiếp quản vùng giải phóng,... Thực hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, Bộ Nội vụ cùng các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương thực hiện một nhiệm vụ chính trị quan trọng và có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng của cả hai miền đó là: tiếp đón, quản lý, tổ chức, phân phối công tác, xây dựng chế độ chính sách,... cho cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc. Mặc dù tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, việc bồi dưỡng về tinh thần và vật chất cho cán bộ, đồng bào miền Nam còn nhiều hạn chế, song với quyết tâm và tinh thần trách nhiệm trong công tác, Bộ Nội vụ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, góp phần vào việc xây dựng lực lượng nòng cốt cho cách mạng hai miền và sự nghiệp thống nhất đất nước.
 Cán bộ, chiến sỹ miền Nam chia tay đồng bào, lên đường chuyển quân tập kết ra Bắc. Ảnh tư liệu

Quản lý, bồi dưỡng cán bộ Dân - Chính - Đảng

Thực hiện quy định của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký ngày 20/7/1954, từ tháng 8/1954- đến 10/1955,  dưới sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự giúp đỡ của một số nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân miền Bắc đã đón tiếp tổng số 167.525 bộ đội, cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc(1), trong đó:

Xác định việc đón tiếp, phân phối công tác, tìm nơi ở và công ǎn việc làm cho số người nói trên là rất quan trọng, có ảnh hưởng và tác dụng chính trị rất lớn, Trung ương Đảng và Chính phủ đã phân công, đôn đốc, giám sát các bộ, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương thực hiện việc quản lý, xây dựng chính sách cán bộ, chiến sỹ, đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc.

Bộ Nội vụ và Ban Tổ chức Trung ương được giao nhiệm vụ đón tiếp và thực hiện công tác bồi dưỡng về tinh thần và vật chất cho cán bộ Dân - Chính - Đảng ở miền Nam tập kết ra Bắc. Thực hiện nhiệm vụ này, Bộ đã tổ chức một Nhà trường gọi là “Trường Cán bộ miền Nam” có nhiệm vụ giáo dục cán bộ miền Nam.
Để cán bộ thông suốt chính sách của Đảng và Chính phủ, đồng thời đảm bảo sức khỏe và việc ăn ở của học sinh, Bộ quyết định cử một số cán bộ xây dựng Nhà trường, vận động nhân dân các địa phương giúp đỡ. Sau một thời gian chuẩn bị, địa điểm đầu tiên của Nhà trường được đặt tại xã Phương Trung, huyện Liên Nam (Hà Đông) cách trung tâm Hà Nội 32 km, sau chuyển về xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm (Hà Nội) (2).

Trong công tác đón tiếp, Bộ Nội vụ bố trí bộ phận liên lạc ở Trường Cán bộ miền Nam và Bộ phận liên lạc ở các cửa khẩu Cửa Hội, Sầm Sơn, Ninh Giang. Dọc đường, Bộ bố trí 07 cán bộ làm nhiệm vụ liên lạc chặt chẽ với cửa khẩu và các địa phương, sắp xếp, phân loại cán bộ, tổ chức các phương tiện đi đường, phổ biến phong tục, tập quán, bảo vệ tính mạng và tài sản cho cán bộ về Nhà trường.

Tính đến ngày 22/10/1955, tổng số cán bộ miền Nam do Bộ Nội vụ đón tiếp và quản lý được đưa về Trường Cán bộ miền Nam là 10.892 người (Nam Bộ: 3.531, Liên Khu 5. 7.361) trong đó: cán bộ Dân: 1869, cán bộ Chính: 3483, cán bộ Đảng: 633, xã và CNV: 4.153, bảo vệ dân cư Nam Bộ: 107, còn 674 đang đi học hoặc chưa vào học đã đi công tác(3). Số cán bộ này được Nhà trường bố trí, sắp xếp, tổ chức thành 07 khóa học trình độ cán bộ khu, cán bộ tỉnh, cán bộ huyện, xã.

Xây dựng chế độ chính sách đối với cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc

Vào giữa những năm 1955, đất nước vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng bằng quyết tâm và nỗ lực phi thường, Đảng, Chính phủ, cùng Ban Đón tiếp Trung ương và nhân dân toàn miền Bắc đã quyết tâm hoàn thành việc chuyển quân, đón tiếp cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc theo đúng điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ. Tuy nhiên, công tác tổ chức, quản lý và việc thực thi chế độ chính sách cho cán bộ và đồng bào miền Nam ở một số cấp, ngành vẫn còn nhiều hạn chế cần được khắc phục kịp thời. Vì vậy, ngày 11/5/1955, trên cơ sở đã thảo luận với Bộ Tài chính, Bộ Lao động, Ban Kinh tế Trung ương, Ban đón tiếp miền Nam, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 847-P/QC thống nhất các chế độ cán bộ miền Nam (4). Thông tư căn cứ vào các chế độ hiện hành để quy định mang tính chất tạm thời vấn đề lương và phụ cấp cho cán bộ nhân viên miền Nam tập kết.

Ngày 15/7/1955, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã ra Chỉ thị số 33/CT-TW về việc kiểm điểm thực hiện chính sách đối với cán bộ và gia đình cán bộ miền Nam tập kết ở miền Bắc(5).

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng về việc xây dựng chế độ chính sách đối với cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc - một việc làm quan trọng, giải quyết các vấn đề cấp thiết của cách mạng Việt Nam thời điểm lúc bấy giờ: một mặt đảm bảo nguyện vọng của cán bộ, đồng bào miền Nam để họ vững tâm cùng tham gia vào công cuộc củng cố miền Bắc xã hội chủ nghĩa, mặt khác ổn định về tư tưởng, qua đó bố trí, sắp xếp công tác và bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ,... lực lượng này để sử dụng lâu dài cho cách mạng ở miền Nam, Bộ Nội vụ đã nghiên cứu, bổ sung và dần hoàn thiện chế độ chính sách cho cán bộ, đồng bào miền Nam. Ngày 07/10/1955, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính đã ký Thông tư liên bộ số 05-TT/LB/NV TC giải thích thêm về chế độ đối với cán bộ miền Nam tập kết (6), để các cấp các ngành thi hành thống nhất.

Ngày 10/7/1956, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 35-CT-TW v/v chấp hành chính sách đối với cán bộ và đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc. Nội dung của Chỉ thị đã chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân của việc thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ, đồng bào miền Nam, đó là: “... đời sống của anh chị em chưa được ổn định,... điều kiện ăn ở chưa được chu đáo, thiếu thuốc men, dầu đèn, sách báo,... Số gia đình tự túc có nhiều người thiếu sức lao động, một số già yếu, đau ốm, nên chủ yếu vẫn phải nhờ nhân dân và Chính phủ giúp đỡ... Hiện nay, còn non một nghìn cháu đến tuổi mà chưa được đi học,... Về tư tưởng nói chung anh chị em có nhiều vấn đề thắc mắc. Phổ biến là tư tưởng bi quan, sốt ruột, thiếu tự tin ở cuộc đấu tranh chính trị,... Nguyên nhân của những thiếu sót này là do hoàn cảnh miền Bắc đang trong thời kỳ khôi phục kinh tế, đời sống còn nhiều khó khăn; nhưng phần chính là do sự thiếu sót về lãnh đạo” (7). Chỉ thị yêu cầu cần phải giải quyết ngay các việc: tiến hành một đợt tuyên truyền về tình hình và nhiệm vụ tiếp tục đấu tranh thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ; triệt để thực hiện các chế độ đã có, tích cực cải thiện đời sống và nâng cao trình độ chính trị, văn hóa cho anh chị em; cần nghiên cứu sắp xếp lại cho hợp lý, làm cho anh chị em được an tâm, tích cực công tác (điều chỉnh lại sự phân công công tác và sắp xếp lại bậc ngạch lương).

Tiếp đó, ngày 09/8/1956, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phan Kế Toại đã ký ban hành Chỉ thị số 1000–TTg bổ sung chế độ đối với cán bộ, đồng bào miền Nam (8). Chỉ thị đã quy định việc sử dụng cán bộ, đồng bào miền Nam ở các công trường phải có kế hoạch sử dụng lâu dài: “Chính phủ hết sức chủ trương chú trọng việc đưa cán bộ, đồng bào miền Nam vào các công tác có tính cách ổn định, thường xuyên, vào biên chế của các nông trường, xí nghiệp doanh nghiệp, các đội công trình chuyên nghiệp, v.v... Trong lúc hết việc không nên để anh chị em ở không mà nên tìm công việc (dù tạm thời) và bố trí cho anh em làm” .

Chỉ thị cũng quy định việc chăm lo sức khỏe, cải thiện đời sống cán bộ, đồng bào miền Nam ở các công trường phải được coi trọng, những người đau yếu thuộc loại an dưỡng, điều dưỡng, điều trị phải được tiến hành chăm sóc.  Đối với cán bộ đồng bào miền Nam tự túc ở địa phương Chỉ thị cũng quy định các mức trợ cấp theo tiêu chuẩn sau: đối với người đã được bố trí công việc còn thiếu thốn được trợ cấp một khoản tiền để tiếp sức trong khoảng thời gian từ 1 – 3 tháng (người lớn: 20.000đ/1tháng, trẻ em dưới 14 tuổi/10.000đ/tháng); đối với người mới ra miền Bắc xét điều kiện sinh sống còn khó khăn Chính phủ trợ cấp thời gian từ 3 - 6 tháng (người lớn: 20.000đ/1tháng, trẻ em dưới 14 tuổi/10.000đ/tháng); đối với người già xét không có khả năng tự túc, không có chỗ nương tựa được Chính phủ cấp 22.000đ/người/tháng,... Đối với học sinh và nhi đồng miền Nam, học sinh vượt tuyến được cấp các khoản sinh hoạt phí hàng tháng  theo độ tuổi,... Ngoài ra, Chỉ thị còn quy định các chế độ mai táng, sửa sang mồ mả của cán bộ đồng bào miền Nam.

Cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ trong việc xây dựng, hoàn thiện chế độ chính sách đối với cán bộ, chiến sỹ, đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc, ngày 31/8/1956, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 25 CB-TT về việc thi hành chính sách đối với cán bộ miền Nam tập kết, bộ đội chuyển ngành và cán bộ bị bắt trong dịp thi hành Hiệp định đình chiến (9). Thông tư đã chỉ rõ những hạn chế trong việc sử dụng, phân phối công tác, việc sắp xếp cấp bậc, đãi ngộ vật chất còn chưa thỏa đáng,... đối với cán bộ, bộ đội chuyển ngành bị địch bắt được tha trong dịp đình chiến được phân công về cơ quan một số cấp, ngành. Thông tư đề nghị các Bộ và các Ủy ban Liên khu chú ý và nghiên cứu thực hiện để hạn chế những thiếu sót trong việc chấp hành chính sách đối với bộ đội và cán bộ nói trên. Ngày 08/11/1956, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và Bộ Lao động đã ký Thông tư liên bộ số 36-TT/LB bổ sung chế độ cấp phát chăn màn, áo rét quần áo và phụ cấp cho anh chị em cán bộ miền Nam(10). Ngày 5/11/1956, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 34/PQC quy định chế độ mai táng, sửa sang mồ mả của anh chị em miền Nam công tác ở các cơ quan hay tự túc ở nông thôn chết tại miền Bắc(11). Thông tư quy định các chế độ trợ cấp mai táng phí cho cán bộ, nhân viên, công nhân viên miền Nam, công tác tại cơ quan Dân – Chính – Đảng, các công trường, nông trường, xí nghiệp, trường học, thương binh, bộ đội phục viên miền Nam và anh chị em miền Nam tự túc tại nông thôn chết tại miền Bắc. Ngày 17/12/1956, sau khi trao đổi với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ ra văn bản số 5.343-QC về việc bổ sung chế độ cấp phát chăn màn, áo rét cho anh chị em cán bộ miền Nam(12). Ngày 02/8/1958, sau khi trao đổi thống nhất với Ban Thống nhất Trung ương, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính đã ký Thông tư liên bộ số 45-TT/LB quy định về chế độ đón tiếp cán bộ đồng bào miền Nam ra miền Bắc(13). Chế độ này xuất phát từ yêu cầu bồi dưỡng tương đối thích đáng và tinh thần đối với anh chị em dựa trên các quy định hiện hành phù hợp với khả năng tài chính của quốc gia. Thông tư quy định các nguyên tắc lập dự toán và quyết toán, chế độ cụ thể và tiêu chuẩn đón tiếp từng loại.

Không chỉ dừng lại ở việc xây dựng chế độ chính sách cho cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc, Bộ Nội vụ còn thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng trong việc quản lý, tổ chức, phân phối sắp xếp cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, cụ thể là: phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương và Ban Quan hệ Bắc Nam nắm bắt tình hình cụ thể của từng cán bộ, nhân viên miền Nam tập kết ra Bắc;  tiếp nhận, quản lý hồ sơ và phân công cán bộ miền Nam đến Bộ Nội vụ về các bộ, ngành Trung ương, các lâm - nông trường, xí nghiệp, các địa phương,... bố trí, việc làm cho đồng bào diện hồi hương, vượt tuyến và tham gia tổ chức các trường đào tạo con em cán bộ miền Nam./.
-------------------------------

Chú thích:
1. Báo cáo của Giám đốc Vụ Cán bộ, Bộ Nội vụ ngày 18/10/1955 , Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Bộ Nội vụ, Hồ sơ 925, tờ 417 – 419.
2.  Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Bộ Nội vụ, Hồ sơ 877, Báo cáo tổng kết của Ban Quản trị Trường Cán bộ miền Nam, tờ 26 – 34.
3. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Bộ Nội vụ, Hồ sơ 925, tờ 422.
4. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Bộ Nội vụ, Hồ sơ số 960, tờ số 1.
5. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Bộ Nội vụ, Hồ sơ 960, tờ số 3-4.
6. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Bộ Nội vụ, Hồ sơ số 960, tờ số 10 – 12.
7. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Bộ Nội vụ, Hồ sơ số 1130, tờ số 1.
8. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Bộ Nội vụ, Hồ sơ số 1130, tờ số 4.
9. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Bộ Nội vụ, Hồ sơ 1130, tờ số 14 – 16.
10. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Bộ Nội vụ, Hồ sơ số 1130, tờ số 20 – 22.
11. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Bộ Nội vụ, Hồ sơ số 1130, tờ số 17 – 18.
12. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Bộ Nội vụ, Hồ sơ số 1554, tờ số 52 – 53.
13. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Bộ Nội vụ, Hồ sơ số 1554, tờ số 42 - 47.

 

Trịnh Việt Dũng, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước (Bộ Nội vụ)

Tin tức cùng chuyên mục

Tiếp công dân, hãy làm nhiều hơn hứa

Ngày đăng 18/09/2019
Dư luận rất đồng tình với nội dung cho ý kiến tại Phiên họp thứ 37 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) nghe Chính phủ báo cáo về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2019 diễn ra ngày 11/9/2019. Tại phiên họp, các thành viên đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yêu cầu phải làm rõ trách nhiệm, xử lý nghiêm người đứng đầu không tiếp công dân, một trong những “chìa khóa” để giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Văn hóa ứng xử - Sức mạnh mềm của thành công

Ngày đăng 16/09/2019
Văn hóa ứng xử là một lĩnh vực đời sống văn hóa sinh động, phong phú của con người diễn ra hàng ngày, luôn luôn gắn liền với sự tồn tại, phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đó cũng chính là sức mạnh mềm làm nên nét đẹp và là chìa khóa thành công của mỗi người, mỗi dân tộc.

Đoàn kết - lời căn dặn thiết tha của Bác Hồ

Ngày đăng 23/08/2019
Trong những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, tư tưởng đoàn kết trong Đảng, đại đoàn kết dân tộc và xây dưng khối đại đoàn kết dân tộc của Người là một  cống hiến đặc sắc, có giá trị lý luận và thực tiễn hết sức quan trọng.

Nhân sự khóa mới: Kiên quyết sàng lọc, đề cao chữ “đức”

Ngày đăng 19/08/2019
Xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, trong đó tiêu chuẩn là chính; coi trọng cả đức và tài, trong đó đức là gốc.

Cần tạo thuận lợi cho sự phát triển mới của trí thức ở Việt Nam – nhìn từ lịch sử và thế giới

Ngày đăng 14/08/2019
Từ trong lịch sử, cha ông ta đã nhận thức rõ vấn đề “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Ngày nay trong thời đại toàn cầu hóa, “hiền tài” vẫn luôn là một vấn đề mang tính thời sự. Trong hai chữ “hiền tài” thì trí thức có vai trò quan trọng quyết định sức mạnh của một quốc gia, dân tộc. Tụt hậu là vấn đề nhãn tiền nếu không có chính sách ưu đãi nhân tài và tạo điều kiện để nhân tài phát triển, đem tri thức của mình phục vụ quốc gia, dân tộc.

Tiêu điểm

Hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu chiến lược cán bộ của Đảng

Tiếp tục quán triệt, hoàn thiện Chiến lược cán bộ và nhiệm vụ đề ra tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: “Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ” và “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và thực hiện thành công Chiến lược cán bộ của Đảng, nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đặt ra đối với Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ trong thời gian tới là cần phải thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW thành các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức (CBCC).