Hà Nội, Ngày 19/10/2019

Vai trò của tư duy lý luận trong quá trình đổi mới ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Ngày đăng: 28/06/2019   08:47
Mặc định Cỡ chữ
Đổi mới tư duy lý luận có vai trò vô cùng quan trọng trong thời kỳ đổi mới ở CHDCND Lào, đưa đất nước Lào từ suy thoái kinh tế - xã hội đi lên phát triển, gặt hái được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, văn hóa, ngoại giao… Bên cạnh những kết quả đạt được, Đảng NDCM Lào nhận định công tác nghiên cứu lý luận chưa theo kịp sự phát triển và yêu cầu cấp bách của cách mạng, đòi hỏi Đảng NDCM Lào phải tiếp tục mài sắc và đổi mới tư duy lý luận hơn nữa.
 

1. Tư duy là trình độ cao của quá trình nhận thức, là sự phản ánh khái quát, gián tiếp, tích cực và sáng tạo thế giới khách quan bởi bộ óc con người. Chỉ có con người mới có khả năng và cần tư duy để tồn tại và phát triển. Nhưng từ khả năng tư duy đến trình độ tư duy khoa học là một khoảng cách đáng kể, vì rằng tư duy khoa học chẳng những chỉ là sự vận động tự nhiên của bộ não mà còn là sự vận động mang tính chất trí tuệ trong quá trình con người quan hệ với thực tiễn. Theo đó, tư duy khoa học đúng đắn nhất hiện nay là tư duy trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Vì vậy, đổi mới tư duy chủ yếu là đổi mới cách suy nghĩ theo thế giới quan duy vật biện chứng và lịch sử. Để trên cơ sở đó, đổi mới về nhân sinh quan theo hướng nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa sao cho phù hợp với yêu cầu phát triển khách quan của đất nước. Có đổi mới tư duy mới đổi mới được những quan điểm, chính sách, chủ trương về tổ chức và chỉ đạo thực tiễn.

Tư duy lý luận là hình thức cao nhất của tư duy, nó nắm bắt, tái tạo hiện thực khách quan không phải bằng những khái niệm thông thường mà bằng những khái niệm khoa học trên cơ sở tổng kết thực tiễn điển hình. Những khái niệm này giúp tư duy con người có thể đi sâu vào bản chất sự vật, vạch ra quy luật và tính quy luật của các sự vật, hiện tượng và dĩ nhiên quá trình này không phải là hành động giản đơn, bất chợt, vụn vặt, rời rạc mà có quy trình, có hệ thống, mang tính chỉnh thể và tính khái quát cao. Vì vậy, sản phẩm của tư duy lý luận đạt tới trình độ lý luận. Thông qua những giả thuyết và lý thuyết với tư cách là những công cụ chủ yếu trong tư duy lý luận thì tư duy lý luận nâng nhận thức con người lên một trình độ mới về chất: không những nhận thức được thực chất của cái đã, đang có mà còn là cái sẽ xảy ra, tức là những tiên đoán khoa học về sự vật, hiện tượng. Nói về vai trò của tư duy lý luận, Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Trong thực tế khinh miệt phép biện chứng thì không thể không bị trừng phạt. Dù người ta tỏ ý khinh thường mọi tư duy lý luận như thế nào đi nữa, nhưng không tư duy lý luận thì người ta không thể liên hệ hai sự kiện trong giới tự nhiên với nhau được, hay không thể hiểu được mối liên hệ giữa hai sự kiện đó... Rõ ràng là sự khinh thường lý luận là con đường chắc chắn nhất đưa chúng ta đến chỗ suy nghĩ theo lối tự nhiên chủ nghĩa, tức là suy nghĩ sai”(1).

Tư duy lý luận biểu hiện trong lĩnh vực kinh tế, đó là những tư tưởng thể hiện ở các lý thuyết, học thuyết kinh tế và các trường phái kinh tế. Trong hiện thực, tư duy lý luận thể hiện ở cương lĩnh, chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội từng giai đoạn phát triển của đất nước. Vì vậy, khi nói đến đổi mới tư duy lý luận là nói tới những thay đổi lớn trong quan điểm, cương lĩnh, chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới trong hệ thống pháp luật, thể chế và chính sách quản lý kinh tế - xã hội của đất nước. Trên cơ sở tư duy lý luận mới sẽ có chính sách mới, từ đó sẽ tạo ra phong trào mới, kết quả mới. Theo đó, đổi mới tư duy lý luận là điểm khởi đầu, mang tính đột phá cho quá trình phát triển mới.

Quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Lào từ năm 1986 đến nay cho thấy vai trò đặc biệt của đổi mới tư duy lý luận đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, đối với vận mệnh của dân tộc trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Đó là quá trình thanh lọc những quan điểm, cương lĩnh, chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội cũ đã lỗi thời, không còn phù hợp với điều kiện mới trên cơ sở yêu cầu của thực tiễn nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào.

2. Sau năm 1975, nước Lào hoàn toàn giải phóng, Đảng Nhân dân cách mạng (NDCM) Lào với vai trò là Đảng cầm quyền đã khẳng định con đường tiếp theo của nhân dân Lào là: “Tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên đất nước Lào”(2). Nhưng do nhận thức nóng vội, chủ quan, sai lầm về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nên tại Đại hội III (ngày 27/4/1982, Đại hội đầu tiên sau ngày nước Lào giải phóng), Đảng NDCM Lào đã khẳng định quyết tâm “tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(3). Trong đường lối phát triển đất nước “không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” đã thể hiện chủ trương của CHDCND Lào là “bỏ qua” cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Theo đó, CHDCND Lào đã tiến hành xóa bỏ ngay thành phần kinh tế phi XHCN, vội vàng quốc hữu hóa cả những xí nghiệp mà Nhà nước chưa đủ khả năng quản lý nên đã làm cho sản xuất giảm sút. Trong nông nghiệp, nhiều địa phương muốn hoàn thành hợp tác hóa ngay để sớm có CNXH nên đã ép nông dân vào hợp tác xã. Kết quả là sản xuất không phát triển, đời sống nông dân không được cải thiện. Trong thương nghiệp, hiện tượng ngăn sông cấm chợ khá phổ biến ở nhiều nơi, thậm chí có nơi còn dùng biện pháp hành chính mệnh lệnh để xóa bỏ tư thương nên đã làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân.

Về tổ chức và quản lý sản xuất, lúc bấy giờ CHDCND Lào áp dụng cơ chế quản lý tập trung quan liêu, hành chính bao cấp dẫn đến tình trạng sản xuất kinh doanh không hiệu quả. Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản lỏng lẻo nên hiệu quả vốn đầu tư rất thấp. Trong phân phối sản phẩm tiêu dùng còn nặng về bình quân, cào bằng nên chưa khuyến khích được người lao động giỏi, có năng suất cao. Các chính sách đòn bẩy kinh tế chưa đồng bộ, vì vậy chưa có tác dụng kích thích sản xuất kinh doanh.

Trên mặt trận văn hóa, giáo dục còn không ít vấn đề về đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, nội dung, chất lượng giáo dục, chất lượng hoạt động văn hóa nghệ thuật... nên đã tạo ra những hạn chế trong đấu tranh với những phong tục, tập quán lạc hậu cũng như xây dựng con người mới.

Những hạn chế, thiếu sót trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ mà Đảng NDCM Lào đã đề ra, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân; nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội đầu những năm 80 của thế kỷ XX giảm sút, đời sống nhân dân, nhất là những người làm công ăn lương gặp rất nhiều khó khăn, buộc Đảng NDCM Lào phải đưa ra đường lối đổi mới đất nước.

Tại Hội nghị Trung ương 5 khóa IV đã khẳng định đường lối đổi mới của CHDCND Lào: “Trên cơ sở đổi mới tư duy, trước hết là tư duy lý luận. Tôn trọng các quy luật khách quan, xây dựng một quan điểm khoa học hơn về chủ nghĩa xã hội, về cơ chế vận dụng quy luật và về cơ chế quản lý kinh tế”(4). Điều đó cho thấy, Đảng NDCM Lào đã nhận thức đúng đắn vai trò của tư duy lý luận, trong quá trình đổi mới ở Lào.

3. Trong thời kỳ đổi mới từ Đại hội IV (năm 1986) đến nay, tư duy lý luận của Đảng NDCM Lào đã từng bước đổi mới và có tiến bộ rõ rệt. Các quan điểm cơ bản của Đảng chỉ đạo sự nghiệp đổi mới dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn nước Lào đồng thời kiên định lập trường và sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Cayxỏn Phômvihản vào điều kiện cụ thể của Lào trong thời kỳ mới.

Trên cơ sở đổi mới tư duy lý luận về kinh tế, Hội nghị Trung ương 7 khóa IV Đảng NDCM Lào đã chỉ ra những mâu thuẫn cơ bản ở Lào là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất quá lạc hậu với yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất có trình độ cao. Để giải quyết mâu thuẫn đó chỉ có con đường duy nhất là phải chuyển nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa gồm nhiều thành phần kinh tế. Do: “thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Lào, kinh tế hàng hóa còn tồn tại khách quan bởi vì: nền kinh tế phần lớn là kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên, lực lượng sản xuất chưa phát triển, kinh tế nhiều thành phần còn tồn tại với mức khác nhau, sự phân công xã hội với sự tồn tại của nhiều chủ thể kinh tế khác nhau, độc lập với nhau, trong điều kiện đó việc trao đổi sản phẩm giữa các chủ thể sản xuất hàng hóa là thông qua thị trường”(5).

Theo tư duy lý luận mới, Đảng NDCM Lào đã chỉ rõ nền kinh tế trong chế độ dân chủ nhân dân là nền kinh tế hàng hóa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần, nhiều tổ chức kinh tế với nhiều mức độ, nhiều quy mô khác nhau. Củng cố thành phần kinh tế nhà nước, khuyến khích kinh tế hộ và cá thể, xây dựng quan hệ thị trường, kinh tế thị trường có sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, mở rộng tự do lưu thông để phát triển thị trường, xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính bao cấp, làm cho sản xuất kinh doanh phong phú hơn, năng động hơn, kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế đã phát triển trên cả nước. Do vậy, nền kinh tế Lào vượt qua khủng hoảng, đi vào ổn định và phát triển không ngừng. Tại Đại hội IX, Đảng NDCM Lào đã khẳng định: sau 25 năm đổi mới, đất nước Lào đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 6,2%/năm, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao rõ rệt. Vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, năm 2010, Lào đạt mức tăng GDP 7,9%. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lào, trong 6 tháng đầu năm 2018, kinh tế Lào tiếp tục tăng trưởng, ổn định và đạt được kết quả rất tích cực: tăng trưởng GDP đạt 6,5%, thu nhập bình quân đầu người đạt 2.599 USD/người.

Bên cạnh đổi mới tư duy lý luận về kinh tế, Đảng NDCM Lào đã chủ trương kết hợp đổi mới tư duy lý luận trên các mặt văn hóa, xã hội. Tại Đại hội IV (12-1986), Đảng NDCM Lào khẳng định: “Để tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của mình, Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác”(6). Do đó, Chính phủ Lào đã đẩy mạnh phát triển các hoạt động xã hội, tạo ra sự hài hòa trong phát triển. Với chủ trương coi giáo dục là điểm mấu chốt trong việc xây dựng xã hội Lào văn minh, hiện đại, ngành giáo dục Lào đã có bước tiến dài. Hệ thống giáo dục hằng năm đã đào tạo ra một số lượng lớn cán bộ có chuyên môn phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đặc biệt, để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH, ngoài số tự đào tạo được, hằng năm Lào còn gửi hàng nghìn học sinh, sinh viên ra nước ngoài học tập. Riêng với Việt Nam, hợp tác giáo dục - đào tạo phát triển nguồn nhân lực được ưu tiên và mở rộng với nhiều hình thức, được thực hiện từ trung ương tới các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp. Mỗi năm, Việt Nam tiếp nhận khoảng 650 học sinh Lào và hiện có tới gần 5.000 du học sinh Lào đang học tập tại Việt Nam. Nhờ đó, trình độ của cán bộ Lào không ngừng tăng lên. Nếu năm 1995, số cán bộ có trình độ trên đại học của Lào chỉ chiếm 0,45%, cao cấp và đại học là 15,16%, không có tiến sĩ và phó tiến sĩ, thì chỉ trong vòng 11 năm (1995 - 2006), Lào đã có 275 tiến sĩ, 2.017 phó tiến sĩ; 13.833 thạc sĩ, đại học; 14.905 cán bộ có trình độ lý luận chính trị cao cấp...(7)

Theo báo cáo của Chính phủ, năm 2018, tình hình an ninh xã hội Lào cơ bản ổn định, vai trò lãnh đạo của Đảng NDCM Lào tiếp tục được giữ vững, Quốc hội và Chính phủ Lào đẩy mạnh việc sửa đổi, ban hành các luật mới nhằm hoàn thiện hệ thống pháp lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước. Quán triệt đường lối lãnh đạo của Đảng NDCM Lào về xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, quân đội nhân dân Lào được tăng cường xây dựng, củng cố về mọi mặt, không chỉ là đội quân chiến đấu mà còn là đội quân công tác, sản xuất giỏi. Sự trưởng thành và lớn mạnh của quân đội nhân dân Lào góp phần đập tan các cuộc bạo loạn, gây rối của các lực lượng phản động, đánh trả các hành động vũ trang khiêu khích, lấn chiếm biên giới của kẻ thù, giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Lào.

Một trong những yếu tố góp phần tạo nên sự lớn mạnh của Lào là do đã thay đổi tư duy lý luận về công tác đối ngoại. Trong tình hình mới, mặc dù hoàn cảnh bên trong và bên ngoài có nhiều thay đổi, Đảng, Nhà nước Lào vẫn xác định chính sách đối ngoại là: “... Tiếp tục duy trì quan hệ ngoại giao và phát triển quan hệ thương mại bình thường với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, trên cơ sở năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình; tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của chính phủ và nhân dân các nước có thiện ý muốn giúp đỡ Chính phủ và nhân dân Lào trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, không ngừng cải thiện đời sống nhân dân Lào”. Thực hiện chính sách đối ngoại này, Lào đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của nhiều nước trên thế giới, tranh thủ được vốn, kỹ thuật vào phát triển đất nước, từ đó tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội. Hiện nay, Lào có quan hệ ngoại giao với 141 nước và hơn 130 đảng chính trị trên thế giới, quan hệ thương mại với 60 nước và vùng lãnh thổ. Lào là thành viên chính thức của ASEAN (7-1997) và đã 2 lần giữ chức Chủ tịch ASEAN (năm 2004 và 2016). Lào tiếp tục tích cực chủ động hội nhập, tăng cường các hoạt động đối ngoại nhằm mở rộng quan hệ, tranh thủ nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong nước.

4. Những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, ngoại giao thời kỳ đổi mới ở CHDCND Lào đã cho thấy, việc nghiên cứu lý luận gắn với tổng kết thực tiễn đã cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối của Đảng, tăng cường sự thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội, góp phần vào những thành công to lớn của sự nghiệp phát triển đất nước. Tuy nhiên, trong những Đại hội gần đây, Đảng NDCM Lào vẫn nhận định, công tác lý luận chưa theo kịp sự phát triển và yêu cầu của cách mạng, chưa làm sáng tỏ một số vấn đề mà công cuộc đổi mới đặt ra như: đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Lào sẽ như thế nào? Có điểm giống và khác so với kinh tế thị trường trên thế giới? Làm thế nào để kinh tế nhà nước nắm được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế đất nước khi nước Lào vẫn là nước phát triển chủ yếu dựa vào nông nghiệp? Làm thế nào để khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển, làm ăn chính đáng mà hạn chế được sự phân hóa giàu nghèo và bảo đảm được công bằng xã hội? Làm thế nào để đẩy mạnh CNH, HĐH mà vẫn bảo vệ được môi trường và hạn chế tình trạng biến đổi khí hậu? Làm thế nào để xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân? Làm thế nào để xây dựng nền văn hóa tiên tiến trên cơ sở đa văn hóa của các bộ tộc Lào? Làm thế nào để đất nước thoát khỏi tình trạng tụt hậu về mặt kinh tế... Những vấn đề này đang chờ câu trả lời từ phía các nhà lý luận của Lào. Do vậy, tại Đại hội IX, Đảng NDCM Lào khẳng định: “Tư duy của Đảng trên một số lĩnh vực chậm đổi mới; một số vấn đề ở tầm quan điểm, chủ trương lớn chậm làm rõ nên chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức và thiếu dứt khoát trong hoạch định chính sách, chỉ đạo điều hành”(8). Tại Đại hội X, Đảng NDCM Lào tiếp tục có đánh giá về công tác lý luận vẫn “còn lạc hậu trên một số mặt, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn đang vận động nhanh chóng, phong phú, phức tạp; chưa giải đáp được nhiều vấn đề do thực tiễn đất nước đặt ra”(9). Thực tiễn đòi hỏi phải tiếp tục có những đổi mới mang tính bước ngoặt về tư duy, đặc biệt là tư duy lý luận.

Đổi mới tư duy lý luận trong điều kiện đổi mới toàn diện công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Lào hiện nay là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn, phức tạp. Thực tiễn đòi hỏi phải tiếp tục có những đột phá về tư duy lý luận, nhưng thực tiễn trong đổi mới lại vô cùng đa dạng và phức tạp, những mâu thuẫn của cuộc sống đặt ra là vô vàn, bên cạnh những ý kiến đồng thuận còn nhiều ý kiến về các hiện tượng xã hội bất đồng, xung đột đòi hỏi lý luận phải giải quyết. Vì vậy, để tiếp tục phát triển tư duy lý luận, trả lời những vấn đề thực tiễn đang đặt ra trong những năm tiếp theo, Đảng NDCM Lào cần tập trung vào một số biện pháp sau:

Một là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, học tập và vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Cayxỏn Phômvihản vào điều kiện cụ thể của Lào trong thời kỳ đổi mới. Bởi, trong giai đoạn hiện nay, tư duy lý luận chân chính, khoa học đó là tư duy lý luận mácxít. Việc nắm vững những tri thức khoa học về thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở quan trọng để rèn luyện phương pháp tư duy biện chứng nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận. Ngoài ra, cần tiếp tục đầu tư nghiên cứu, học tập, phát triển khoa học cơ bản. Theo Báo cáo Đại hội X của Đảng NDCM Lào, công tác nghiên cứu khoa học cơ bản và chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Cayxỏn Phômvihản trong những năm tới cần hướng tới việc khắc phục tình trạng học quá nhiều những kiến thức chung chung, ít thiết thực. Đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy các môn chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Cayxỏn Phômvihản cho phù hợp với yêu cầu phát triển nước Lào.

Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận vừa có đức vừa có tài. Tư duy lý luận là một khoa học liên ngành, vừa có tính khái quát hóa, trừu tượng hóa khoa học rất cao, vừa gắn với năng lực nhận thức của một chủ thể khoa học cụ thể. Do vậy, để có được sản phẩm lý luận khoa học giá trị, đòi hỏi người nghiên cứu phải có trí tuệ uyên bác, bản lĩnh vững vàng, say mê nghiên cứu khoa học, có đạo đức cách mạng và mang tính nhân văn sâu sắc. Xây dựng một đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận chất lượng cao thể hiện: đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân; am hiểu sâu, rộng những tri thức cơ bản của khoa học, nhất là khoa học xã hội nhân văn; có lòng say mê với hoạt động nghiên cứu lý luận; có đạo đức cách mạng trong sáng, xa rời chủ nghĩa cá nhân, vị kỷ hẹp hòi; gắn mình với hoạt động thực tiễn, với phong trào của quần chúng nhân dân. Thông qua việc giải quyết các vấn đề mà thực tiễn đặt ra, các nhà lý luận sẽ nhanh chóng trưởng thành, phát triển tài năng.

Ba là, tăng cường tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận. Tổng kết thực tiễn là quá trình phân tích và khái quát những vấn đề thực tiễn để rút ra bài học nhằm chỉ đạo thực tiễn tiếp theo cũng như bổ sung, phát triển lý luận nói chung, chủ trương, đường lối, chính sách nói riêng. Không có tổng kết thực tiễn thì không có lý luận, không có lý luận khoa học thì không có thực tiễn đúng quy luật. Những năm đổi mới vừa qua, một ưu điểm nổi bật trong công tác nghiên cứu lý luận của Đảng NDCM Lào là bám sát thực tiễn đất nước, thường xuyên tổng kết thực tiễn để khái quát lý luận, xem tổng kết thực tiễn là con đường chủ yếu để phát triển lý luận, thực hiện đúng lời dạy của Lênin: thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đảng NDCM Lào thấy được những ưu điểm của kinh nghiệm cũng như những hạn chế của nó. Chỉ có trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đảng NDCM Lào mới có thể kiểm nghiệm sự đúng sai để có thể kịp thời điều chỉnh, bổ sung, phát triển lý luận. Từ đó mới có cơ sở thực tiễn để ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm; bệnh giáo điều, xem xét lại, sửa đổi, bổ sung lý luận cũ, phát triển lý luận mới.

Soukphongphijit - Nghiên cứu sinh Triết học, tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

-------------------------------

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.508.

(2) Ban Tuyên giáo Trung ương: Đảng nhân dân cách mạng Lào người tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Lào, Nxb Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, 1980, tr.5 (Tiếng Lào).

(3) Đảng NDCM Lào: Văn kiện Đại hội lần thứ III Đảng Nhân dân cách mạng Lào, 1982, tr.45 (Tiếng Lào).

(4) Đảng NDCM Lào: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào khóa IV, 1988, tr.17 (Tiếng Lào).

(5), (6) Đảng NDCM Lào: Văn kiện Đại hội IV, Nxb Chính trị quốc gia, 1986, tr.24, 36 (Tiếng Lào)

(7) Xem Những thành tựu nổi bật của CHDCND Lào trong thời kỳ đổi mới xây dựng đất nước, http://ctvc.edu.vn, ngày 21-7-2012.

(8) Đảng NDCM Lào: Văn kiện Đại hội IX, Nxb Chính trị quốc gia, 2011, tr.54 (Tiếng Lào).

(9) Đảng NDCM Lào: Văn kiện Đại hội X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.23 (Tiếng Lào).

Theo: lyluanchinhtri.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Về quyền làm chủ của nhân dân thông qua cơ chế tự quản địa phương ở một số quốc gia trên thế giới

Ngày đăng 09/10/2019
Quyền làm chủ của nhân dân là một trong những giá trị tiến bộ của nhân loại. Một trong những phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân là thông qua cơ chế tự quản địa phương, theo đó bộ máy chính quyền tự quản tại địa phương được thiết lập nhằm phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương. Bài viết phân tích cơ chế tự quản địa phương của một số quốc gia trên thế giới, qua đó rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Hệ thống công chức và đào tạo công chức với sự phát triển của đất nước Hàn Quốc

Ngày đăng 30/08/2019
Hàn Quốc được biết đến là một trong các con rồng châu Á, từ một nước nghèo nàn chỉ trong vòng 4 thập niên đã trở thành nước thuộc khối OECD, có nhiều chỉ số về kinh tế, xã hội thuộc nhóm đầu thế giới. Đóng góp vào thành công đó có vai trò của những người lãnh đạo đất nước và của hệ thống công chức, công vụ tiên tiến, hiệu quả của đất nước. Đó là điều khiến nhiều quốc gia khác mong muốn học tập Hàn Quốc. Bài viết này là tổng hợp từ chuyến học tập, trao đổi kinh nghiệm đào tạo công chức của Đoàn cán bộ các cơ quan, bộ ngành Việt Nam tại Hàn Quốc cuối tháng 11/2018.

Kinh nghiệm cải cách hành chính dưới tiền đề số hóa tại Nhật Bản

Ngày đăng 28/08/2019
Khi các hoạt động kinh tế và lối sống của người dân đang dần thay đổi và trải qua quá trình chuyển đổi thông qua việc sử dụng công nghệ kỹ thuật số, các cơ quan hành chính công cũng đang thúc đẩy các nỗ lực số hóa.

Xây dựng Chính phủ số tại Malaysia

Ngày đăng 22/08/2019
Từ một quốc gia trì trệ và nợ nần, từ năm 2009 đến nay, Malaysia đã chuyển mình nhờ chuyển đổi số và xây dựng Chính phủ số.

Singapore nâng tuổi nghỉ hưu lên 65 tuổi

Ngày đăng 21/08/2019
Singapore sẽ dần nâng độ tuổi nghỉ hưu lên mức 65 tuổi vào năm 2030. Đây là thông tin được Thủ tướng Lý Hiển Long đưa ra trong bài phát biểu ngày 18/8/2019, nhân dịp Quốc khánh nước này.

Tiêu điểm

Hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu chiến lược cán bộ của Đảng

Tiếp tục quán triệt, hoàn thiện Chiến lược cán bộ và nhiệm vụ đề ra tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: “Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ” và “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và thực hiện thành công Chiến lược cán bộ của Đảng, nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đặt ra đối với Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ trong thời gian tới là cần phải thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW thành các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức (CBCC).