Hà Nội, Ngày 27/06/2019

Vai trò của Bộ quản lý ngành, lĩnh vực trong việc cơ cấu lại đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn bộ máy, nâng cao tự chủ và đẩy mạnh xã hội hóa

Ngày đăng: 06/06/2019   02:38
Mặc định Cỡ chữ
Ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã có Nghị quyết số 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó xác định rõ mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể và một số nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Triển khai Nghị quyết số 19-NQ/TW, Chỉnh phủ đã ban hành Chương trình hành động kèm theo Nghị quyết số 08/NQ- CP với 52 nhiệm vụ và giao trách nhiệm cụ thể cho từng bộ, ngành và địa phương thực hiện. Bài viết tập trung phân tích, làm rõ một số vấn đê cần nghiên cứu khi xây dựng và hoàn thiện thể chế liên quan đến đổi mới, sắp xếp, nâng cao tỉnh tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập và đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.

1. Khái quát một số nhiệm vụ đặt ra theo tinh thần và nội dung Nghị quyết số 19-NQ/TW

1.1 Một số chỉ tiêu cơ bản

Về số lượng đơn vị sự nghiệp công lập: giảm tối thiểu 10% cho mỗi giai đoạn (đến năm 2021 và đến năm 2025). Đến năm 2030 chỉ duy trì các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ chính trị, quản lý nhà nước và cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu.

Về số đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính: phấn đấu đạt 10% cho mỗi giai đoạn (đến năm 2021 và đến năm 2025). 

Về số đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác: phấn đấu đến năm 2025 đạt 100% đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác chuyển đổi thành công ty cổ phần (trừ bệnh viện, trường học).

Về số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong đơn vị sự nghiệp công lập: giảm tối thiểu 10% tương ứng với mỗi giai đoạn (đến năm 2021 tính theo số năm 2015, đến năm 2025 tính theo số năm 2021 và đến năm 2030 tính theo số năm 2025).

Về chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp: phấn đấu giảm bình quân 10% cho mỗi giai đoạn (2016-2020, 2021-2025) và 15% cho giai đoạn 2025-2030.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

1.2 Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu

Nghị quyết số 19-NQ/TW đã xác định một số nhiệm vụ, giải pháp cần triển khai ngay để sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập thuộc 07 lĩnh vực sự nghiệp (giáo dục và đào tạo; giáo dục nghề nghiệp; y tế; khoa học và công nghệ; văn hóa, thể dục, thể thao; thông tin và truyền thông; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác) và một số nhiệm vụ, giải pháp có tính dài hạn như: 1) Đẩy mạnh cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo cơ chế thị trường, thúc đẩy xã hội hóa dịch vụ sự nghiệp công; 2) Nâng cao năng lực quản trị của đơn vị sự nghiệp công lập; 3) Hoàn thiện cơ chế tài chính; 4) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Để thực hiện hiệu quả các giải pháp nêu trên, bên cạnh việc chủ động vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương (với tư cách là cơ quan quản lý đơn vị sự nghiệp) và nhu cầu tự đổi mới, nâng cao năng lực của các đơn vị sự nghiệp công lập thì vai trò của các bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành công trong việc đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

2. Vai trò của bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp

Trên cơ sở chỉ tiêu đặt ra trong việc sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW, bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

Một là, giảm số lượng đơn vị sự nghiệp công lập, chỉ duy trì các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ chính trị, quản lý nhà nước và cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu.
Trong một xã hội phát triển, nhu cầu thụ hưởng các dịch vụ sự nghiệp công ngày càng cao cả về chất lượng và số lượng dịch vụ. Trong điều kiện nguồn lực của Nhà nước còn hạn chế, việc xác định phạm vi cung ứng dịch vụ sự nghiệp công thuộc trách nhiệm của Nhà nước là cần thiết. Vì vậy, bên cạnh việc xác định các dịch vụ sự nghiệp có tính chất phục vụ quản lý nhà nước và các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu Nhà nước cần tổ chức cung ứng, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp cần nghiên cứu rà soát và lập danh mục các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong đó bao gồm các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu thuộc ngành, lĩnh vực trong từng giai đoạn.

Để xác định được một dịch vụ sự nghiệp công theo ngành, lĩnh vực, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực cần làm rõ một số yếu tố cơ bản của dịch vụ đó, gồm: có khả năng xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật; xác định được tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá chất lượng; dự báo được lộ trình tính giá đầy đủ.

Trên cơ sở danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách, bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp cần phân loại các dịch vụ sự nghiệp công tùy theo mức độ khả năng xã hội hoá, bảo đảm phù hợp với lộ trình tính giá đầy đủ đối với từng loại dịch vụ sự nghiệp công. Theo đó, cần phải tổng rà soát, đánh giá năng lực cung ứng dịch vụ sự nghiệp công của các đơn vị sự nghiệp trong và ngoài công lập theo ngành, lĩnh vực để xây dựng hoặc điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực, phù hợp với định hướng đẩy mạnh xã hội hóa, đáp ứng yêu cầu từng bước thu gọn đầu mối, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ sự nghiệp công của các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực.

Quy hoạch này cần bao quát các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập và hoạt động theo ngành, lĩnh vực đang do các bộ, ngành Trung ương và địa phương quản lý (các cơ quan này có trách nhiệm chỉ đạo định hướng sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập do mình quản lý gửi bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp tổng hợp trong quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực).

Hai là, tăng số đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính.

Cùng với nhiệm vụ sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực, việc tạo cơ chế thúc đẩy các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động với khả năng tự chủ tài chính ngày càng cao là yêu cầu cấp thiết. Để thực hiện mục tiêu này, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực cần tập trung vào một số nhiệm vụ sau:

Xác định, phân loại dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực thực hiện theo cơ chế phí và dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực thực hiện theo cơ chế giá dịch vụ trong từng giai đoạn theo nguyên tắc chuyển dần từ áp dụng cơ chế phí sang thực hiện theo cơ chế giá dịch vụ (đủ bù đắp chi phí và có tích lũy đối với hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công của đơn vị sự nghiệp công lập). Trên cơ sở đó, xây dựng cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực tạo cơ sở pháp lý để thực hiện phương án tự chủ theo từng mức: tự chủ một phần chi thường xuyên; tự chủ chi thường xuyên; tự chủ chi thường xuyên và một phần chi đầu tư; tự chủ chi thường xuyên và chi đầu tư.

Để có cơ sở xác định phí, giá dịch vụ, bộ quản lý ngành, lĩnh vực cần hoàn thiện định mức kinh tế - kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng tương ứng với tính chất dịch vụ sự nghiệp công. Hai vấn đề này cần được nghiên cứu để quy định phù hợp với trình độ phát triển khoa học và công nghệ của ngành, lĩnh vực, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, mức thu nhập và khả năng chi trả của đối tượng thụ hưởng dịch vụ sự nghiệp công trong từng giai đoạn.

Về nguyên tắc, khi thực hiện tự chủ tài chính, đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm cung ứng bình đẳng về chất lượng dịch vụ đối với mọi đối tượng thụ hưởng. Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi cho các đối tượng người nghèo, đối tượng chính sách, bộ quản lý ngành, lĩnh vực cần xây dựng chính sách và thực hiện phương thức hỗ trợ trực tiếp đối với đối tượng người nghèo, đối tượng chính sách khi thụ hưởng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu.

Ba là, chuyển đổi đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác thành công ty cổ phần (trừ bệnh viện, trường học).

Việc chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần là một giải pháp mang tính đột phá, thay đổi về mô hình quản trị (từ cơ chế thủ trưởng sang cơ chế hội đồng), thay đổi về sở hữu (từ sở hữu nhà nước sang đa sở hữu có sự tham gia của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước), về cơ bản, các dịch vụ sự nghiệp thuộc ngành, lĩnh vực thực hiện chuyển đổi từ đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần là những dịch vụ có tính xã hội hóa cao, khu vực ngoài nhà nước thực hiện có có khả năng đem lại hiệu quả cao hơn khu vực nhà nước. Giá của các loại dịch vụ này cơ bản thực hiện theo nguyên tắc thị trường và được điều chỉnh phù hợp với tính chất thụ hưởng dịch vụ (với mục đích sinh hoạt thì giá được Nhà nước kiểm soát theo khung giá, với mục đích kinh doanh thì thực hiện theo giá thị trường). Danh mục các ngành, lĩnh vực này cần được các bộ quản lý ngành, lĩnh vực rà soát, hoàn thiện theo từng giai đoạn trên cơ sở nghiên cứu thị trường, khả năng cung ứng của khu vực ngoài nhà nước và lộ trình chuyển đổi từ phí sang giá đối với dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực.

Bốn là, giảm số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong đơn vị sự nghiệp công lập.

Việc thực hiện chỉ tiêu này gắn với kết quả thực hiện các giải pháp về tăng số đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính (trên cơ sở giá dịch vụ được tính đúng, đủ theo cơ chế thị trường có sự kiểm soát của Nhà nước) và chuyển đổi đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác thành công ty cổ phần (trên cơ sở hoàn thiện danh mục ngành, lĩnh vực hoạt động mà đơn vị sự nghiệp công lập phải chuyển thành công ty cổ phần).

Việc giảm số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực thực sự có ý nghĩa khi thực hiện cơ chế xã hội hóa sẽ giúp Nhà nước đáp ứng một phần quan trọng đối với việc cung ứng dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực trong bối cảnh nhu cầu của người dân và xã hội ngày càng tăng cao. Vì vậy, để thực hiện chỉ tiêu này, bên cạnh việc thực hiện các giải pháp một cách chủ động từ phía các cơ quan nhà nước, bộ quản lý ngành, lĩnh vực cần nghiên cứu các chính sách khuyến khích các thành phần ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực để đáp ứng nhu cầu (cả về chất lượng và số lượng) ngày càng cao của người dân và xã hội. Qua đó, giảm áp lực tăng số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập đối với một số ngành, lĩnh vực (gián tiếp thực hiện mục tiêu giảm số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực).

Năm là, giảm chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp.

Trên cơ sở danh mục dịch vụ sử dụng ngân sách nhà nước, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp cần tiếp tục phân loại theo nguyên tắc: các dịch vụ thiết yếu thì Nhà nước bảo đảm kinh phí; các dịch vụ cơ bản thì Nhà nước hỗ trợ kinh phí; các dịch vụ mang tính đặc thù theo ngành, lĩnh vực thì Nhà nước thực hiện theo cơ chế đặt hàng hoặc đấu thầu để tạo điều kiện cho các cơ sở ngoài công lập cùng tham gia (giá của nhóm dịch vụ này về cơ bản cần được tính đầy đủ chi phí nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc không vì mục tiêu lợi nhuận); các dịch vụ khác thì đẩy mạnh thực hiện cơ chế xã hội hóa, huy động sự tham gia cung ứng của các thành phần kinh tế (giá của nhóm dịch vụ này về cơ bản được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận giữa đơn vị cung ứng dịch vụ với đối tượng thụ hưởng dịch vụ, bảo đảm phù hợp với khung giá do Nhà nước quy định); các loại dịch vụ thuộc ngành, lĩnh vực do doanh nghiệp cung ứng (Nhà nước không thành lập các đơn vị sự nghiệp công lập hoặc chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp công lập đang cung ứng các dịch vụ này thành doanh nghiệp).

Ngoài việc phân loại các dịch vụ sự nghiệp công để có cơ chế đảm bảo hoặc hỗ trợ từ phía Nhà nước, việc bố trí kinh phí đối với hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cần được thực hiện theo cơ chế đấu thầu, đặt hàng, bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng giữa các đơn vị sự nghiệp trong và ngoài công lập trong việc cung ứng dịch vụ sự nghiệp công. Qua đó, hiệu quả sử dụng kinh phí nhà nước sẽ được gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công. Các đơn vị sự nghiệp công lập không có khả năng cung ứng hoặc cung ứng dịch vụ công không hiệu quả sẽ được sắp xếp lại (hợp nhất, sáp nhập hoặc giải thể), khắc phục việc bố trí kinh phí theo số lượng biên chế sự nghiệp tại các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động không hiệu quả. Theo đó, Nhà nước có cơ sở phân loại, quản lý và đầu tư có trọng điểm để nâng cao năng lực các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động có hiệu quả, sắp xếp, kiện toàn, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp hoạt động không hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Sáu là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Đổi mới, nâng cao tính tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập với mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực vừa là mục tiêu, vừa là đối tượng của hoạt động quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực thuộc trách nhiệm của bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp. Vì vậy, để quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công phát triển theo đúng định hướng, bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp cần hoàn thiện tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá, kiểm định chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, bảo đảm người dân và xã hội được thụ hưởng chất lượng hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công tương ứng với mức phí, giá dịch vụ mà họ đóng góp, chi trả. Đồng thời, qua hoạt động giám sát, đánh giá, kiểm định chất lượng dịch vụ sự nghiệp công (sự phù hợp đối với các tiêu chuẩn, điều kiện tổ chức, hoạt động và mức độ hài lòng của các đối tượng thụ hưởng dịch vụ sự nghiệp công) với mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, các cơ quan quản lý sẽ thực hiện việc bố trí kinh phí theo chất lượng kết quả đầu ra của hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công do các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp./.

TS.Vũ Hải Nam – Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức – Biên chế, Bộ Nội vụ
 

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Sự biến đổi đời sống tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0

Ngày đăng 26/06/2019
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong hơn 30 năm qua đã làm chuyển biến sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có đời sống tôn giáo, tín ngưỡng. Bài viết này trình bày những biến đổi của đời sống tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) trên các phương diện: biến đổi về diện mạo và cấu trúc tôn giáo; biến đổi niềm tin tôn giáo và hệ lụy của nó; biến đổi về phương thức truyền giáo và sống đạo, góp phần nâng cao nhận thức về đời sống tôn giáo ở nước ta hiện nay.

Về chủ nghĩa dân túy và đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện của nó ở Việt Nam hiện nay

Ngày đăng 24/06/2019
Chủ nghĩa dân túy là hiện tượng phức tạp, được chú ý nhiều trong đời sống chính trị trên thế giới hiện nay. Bài viết phân tích nguồn gốc, đặc trưng của chủ nghĩa dân túy và những biểu hiện chính của nó trong thế giới đương đại; đồng thời phân tích những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay, mặc dù nó chưa trở thành trào lưu điển hình và chưa chi phối đời sống chính trị - xã hội nhưng đã xuất hiện và có nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh, ngăn ngừa kịp thời.

Lại bàn về tự do báo chí (Kỳ 1)

Ngày đăng 20/06/2019
Ngay từ khi báo chí ra đời, vấn đề tự do báo chí đã xuất hiện. Và trong suốt lịch sử tồn tại, phát triển của báo chí, vấn đề tự do báo chí luôn luôn đồng hành như hình với bóng, trở thành chủ đề trung tâm của những cuộc tranh luận quyết liệt, không bao giờ dứt, thậm chí là nguyên nhân của không biết bao nhiêu vụ, việc rắc rối, phức tạp, kể cả tù đày và đổ máu.

Xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam

Ngày đăng 11/06/2019
Đã có nhiều nghiên cứu về chủ đề xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển, dẫn đến sự đa dạng trong nhận thức về khái niệm, chức năng, đặc điểm của nhà nước kiến tạo phát triển. Bài viết đưa ra quan niệm, phân tích các đặc điểm, những điều kiện cần thiết để xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam.

Thực trạng công tác đối ngoại thời gian qua và những vấn đề đặt ra

Ngày đăng 05/06/2019
Công tác đối ngoại đã góp phần đưa đất nước đi đúng xu thế của thời đại, góp phần kết nối sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Với các nước lớn, Việt Nam đã xây dựng được các khuôn khổ quan hệ ổn định, cùng có lợi, phù hợp với lợi ích của đất nước về lâu dài. Các nước lớn cũng đặt Việt Nam ở vị trí ngày càng cao trong chiến lược của họ ở khu vực và trên thế giới. Với các nước láng giềng, chúng ta đã giữ được phên dậu, giữ được hòa hiếu, đã tìm ra hướng đi chung với láng giềng, kể cả trong những lĩnh vực nhạy cảm (ví dụ như trong vấn đề Mê-công với Lào). Với các cơ chế đa phương, Việt Nam đã mở ra không gian rộng lớn hơn để có thể tham gia ngày càng sâu rộng, chủ động hơn, có thể đóng vai trò lớn hơn, đóng góp thực chất hơn, đồng thời phục vụ thiết thực với việc bảo vệ lợi ích quốc gia. Công tác đối ngoại đã đồng đều hơn và có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các lĩnh vực (ngoại giao chính trị, kinh tế, văn hóa) trên các kênh (ngoại giao Đảng, Nhà nước, Quốc hội, đối ngoại nhân dân)

Tiêu điểm

Hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu chiến lược cán bộ của Đảng

Tiếp tục quán triệt, hoàn thiện Chiến lược cán bộ và nhiệm vụ đề ra tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: “Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ” và “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và thực hiện thành công Chiến lược cán bộ của Đảng, nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đặt ra đối với Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ trong thời gian tới là cần phải thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW thành các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức (CBCC).