Hà Nội, Ngày 27/06/2019

Một số vấn đề lý luận về đánh giá quản trị công  

Ngày đăng: 11/04/2019   03:33
Mặc định Cỡ chữ
Từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay, quản trị công đang nổi lên với tính cách là một vấn đề lý luận và thực tiễn thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học. Hiện nay, cải cách chính phủ theo mô hình quản trị công là một xu thế phổ biến nhằm đáp ứng tốt hơn những yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn. Bài viết phân tích mục tiêu của quản trị công và nêu lên hệ thống chỉ tiêu đánh giá quản trị công.
Ảnh minh họa: internet

1. Quan niệm và mục tiêu của quản trị công

Bước tiến về mặt lý luận và thực tiễn từ quản lý công sang quản trị công xuất phát từ yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn quản trị ở các quốc gia dưới tác động của các nhân tố như: áp lực và thách thức của toàn cầu hóa; hạn chế của hành chính công truyền thống và áp lực của cải cách chính phủ; sự phát triển của các tổ chức xã hội và sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại.
Có quan niệm coi quản trị công là sự hợp tác giữa nhiều chủ thể (nhà nước, thị trường, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, báo chí và công dân) do nhà nước giữ vai trò chủ đạo nhằm giải quyết các vấn đề công, cung ứng dịch vụ công và thực hiện lợi ích công. Vì vậy, quản trị công là sự hợp tác giữa nhà nước và các tổ chức xã hội nhằm giải quyết tốt các vấn đề công, cung ứng dịch vụ công và thực hiện lợi ích công.

Có thể thấy, sự khác nhau giữa mô hình quản trị công với quản lý nhà nước theo nghĩa truyền thống ở một số phương diện sau: 

Thứ nhất, về kết cấu, nếu trong quản lý nhà nước theo nghĩa truyền thống, nhà nước hay chính phủ là chủ thể duy nhất trong quản lý xã hội, thì trong mô hình quản trị công, nhà nước không còn là chủ thể duy nhất mà chủ thể quản trị công vừa bao gồm nhà nước, vừa bao gồm tổ chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, khu vực tư nhân, các tổ chức xã hội, báo chí và công dân. 

Thứ hai, về phương thức, nếu quản lý nhà nước theo nghĩa truyền thống là quá trình thực thi quyền lực nhà nước đơn phương, một chiều, từ trên xuống thì quản trị công là quá trình tương tác một cách hiệu quả giữa nhà nước, doanh nghiệp, xã hội và công dân. Việc thông qua các phương thức như hợp tác, đối thoại, hiệp thương, quan hệ đối tác giữa nhà nước với thị trường và xã hội để quản lý có hiệu quả các vấn đề công và thực hiện tốt lợi ích công. Trong mô hình quản trị, quan hệ giữa nhà nước và xã hội không phải là quan hệ đối lập, mà là quan hệ đối tác và hợp tác. 

Thứ ba, về cơ chế, nếu quản lý nhà nước theo nghĩa truyền thống, nhà nước sử dụng chính sách, pháp luật, mệnh lệnh hành chính để thực thi quyền lực đối với xã hội, thì trong quản trị công, cơ chế vừa bao gồm các quy tắc chính thức (pháp luật), vừa bao gồm các thể chế phi chính thức; quản trị công không còn đơn thuần là dựa vào việc sử dụng quyền lực đơn phương từ trên xuống dưới của nhà nước; xã hội và công dân cũng không phải là bên tiếp nhận một cách bị động chính sách và mệnh lệnh của nhà nước, mà là “quá trình tương tác một cách hiệu quả giữa nhà nước, doanh nghiệp, xã hội và công dân”(1).

Thứ tư, về tổ chức bộ máy và con người. Nếu quản lý nhà nước theo nghĩa truyền thống là việc thông qua bộ máy công quyền và đội ngũ cán bộ, công chức để nhà nước thực thi vai trò quản lý xã hội, thì trong quản trị công, bên cạnh tổ chức, bộ máy công quyền còn có hệ thống thiết chế là các đoàn thể xã hội, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận và báo chí; là sự hợp tác giữa tổ chức và bộ máy quyền lực công với tổ chức và của các tổ chức bên ngoài bộ máy công quyền để giải quyết hiệu quả các vấn đề công, cung ứng dịch vụ công. 

Thứ năm, về góc độ nguồn lực. Nếu trong quản lý nhà nước theo nghĩa truyền thống, nhà nước chỉ dựa vào sức mạnh và nguồn lực của bản thân để giải quyết các vấn đề công, cung cấp dịch vụ công thì trong mô hình quản trị công, đồng thời với việc khẳng định tầm quan trọng về các nguồn lực của nhà nước, còn nhấn mạnh đến nguồn lực, sức mạnh của xã hội và thị trường trong quản lý xã hội, cũng như sự tích hợp nguồn lực của khu vực công và khu vực tư để giải quyết có hiệu quả các vấn đề công và cung ứng dịch vụ công.

Mục tiêu của quản trị công chính là thực hiện quản trị tốt, bao gồm 9 vấn đề sau:

Một là, tăng cường tính hợp pháp của nhà nước. Dưới góc độ chính trị học, tính hợp pháp của nhà nước được hiểu là sự thừa nhận và ủng hộ của nhân dân đối với việc nắm giữ quyền lực công của nhà nước. Việc duy trì địa vị thống trị của nhà nước không chỉ cần đến công cụ bạo lực, mà còn cần có sự thừa nhận và phục tùng một cách tự giác của nhân dân đối với việc nắm giữ và thực thi quyền lực của nhà nước. Vì vậy, mục tiêu quan trọng của quản trị công là thông qua các phương thức khác nhau để tăng cường tính hợp pháp của nhà nước và củng cố niềm tin của nhân dân đối với các thiết chế quyền lực công. 

Hai là, đảm bảo sự tham gia đầy đủ của nhân dân. Sự tham gia của nhân dân không chỉ là yêu cầu cơ bản của chính trị dân chủ, mà còn là một phương diện không thể thiếu của quản lý dân chủ. Sự tham gia của công dân không chỉ là để thực hiện quyền công dân, mà còn là sự bù đắp cho một số hạn chế về phương diện nhân lực, vật lực và năng lực chuyên môn của nhà nước. Chính vì vậy, yếu tố quan trọng của quản trị công là việc mở rộng và bảo đảm sự tham gia của công dân vào quá trình quản lý xã hội. Theo đó, nhà nước cần có cơ chế hợp lý để đảm bảo sự tham gia của công dân; đồng thời thực hiện các quyền tự do ngôn luận, nêu sáng kiến chính sách, phê bình, kiến nghị, thảo luận, tranh luận và phản biện của công dân. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện để các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội tham gia có hiệu quả vào quá trình quản lý, hợp tác giữa nhà nước với các tổ chức xã hội.

Ba là, công khai và minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. “Minh bạch” được hiểu là tất cả công việc của các cơ quan nhà nước (trừ những vấn đề thuộc về bí mật quốc gia theo luật không được công khai) đều cần phải công khai để đảm bảo “quyền được biết” của công dân và tiếp nhận sự giám sát của công dân. Tính minh bạch chủ yếu liên quan đến hai phương diện quan trọng: thứ nhất, tính công khai về các thông tin liên quan đến chính sách và hoạt động của các cơ quan nhà nước; thứ hai, quyền được biết của công dân, tức người dân có thể thông qua nhiều phương thức khác nhau để nắm bắt thông tin một cách nhanh chóng, đầy đủ từ các cơ quan nhà nước. Đảm bảo quyền được biết là tiền đề quan trọng để thực hiện sự tham gia và giám sát của công dân.

Bốn là, tính trách nhiệm. Tính trách nhiệm được hiểu là cơ quan nhà nước phải thực hiện tốt chức trách của mình đối với công dân theo pháp luật; phải đưa ra sự phản ứng và hành động có trách nhiệm trước những yêu cầu chính đáng của công dân. Trong quản trị công, tính trách nhiệm được thể hiện ở những phương diện như: các cơ quan nhà nước và đội ngũ công chức phải chịu trách nhiệm trước xã hội và công dân về hành vi của mình; các cơ quan nhà nước nắm bắt kịp thời nhu cầu, đòi hỏi của doanh nghiệp, xã hội và công dân nhằm đưa ra các giải pháp để giải quyết những nhu cầu, đòi hỏi đó. 

Năm là, pháp quyền. Pháp quyền là cơ sở của quản trị dân chủ và được hiểu là: 1) Xã hội có một khung khổ pháp luật đầy đủ, đồng bộ và minh bạch nhằm ghi nhận và bảo vệ quyền con người, quyền công dân; 2) Sự độc lập của hệ thống tư pháp; 3) Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, bất cứ người nào, tổ chức nào đều có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật; 4) Quyền công dân đều được tôn trọng và bảo đảm một cách đầy đủ; 5) Pháp luật là chuẩn mực cao nhất trong quản trị công, tất cả hoạt động của quản lý công đều phải theo pháp luật. Vì vậy, pháp quyền có nghĩa là “có pháp luật để làm căn cứ và hoạt động theo, chấp hành và thực thi pháp luật phải nghiêm, vi phạm pháp luật bắt buộc phải bị truy cứu”.

Sáu là, hiệu lực và hiệu quả. Tính hiệu lực và hiệu quả của quản trị công được thể hiện ở một số phương diện như: tính hợp lý trong sắp xếp bộ máy và sự vận hành thông suốt, hiệu quả của các cơ quan nhà nước; sự rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức; sự tinh thông và thành thạo về nghiệp vụ, năng suất, chất lượng và hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức; chi phí đầu tư cho phục vụ công thấp, nhưng chất lượng của phục vụ công tốt; thực hiện công bằng xã hội, giải quyết tốt mối quan hệ giữa công bằng và hiệu quả, coi trọng hiệu quả xã hội; nhấn mạnh sự phát triển bền vững, tránh được tối đa hành vi ngắn hạn; coi trọng việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.

Bảy là, công bằng xã hội, là một tiêu chí thể hiện sự tiến bộ xã hội, là giá trị ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Công bằng xã hội không chỉ là sự công bằng và hợp lý trong phân phối, mà còn bao gồm sự công bằng về cơ hội, thể hiện ở một số phương diện như sự bình đẳng về quyền công dân. Theo đó, nhà nước phải bảo đảm sự bình đẳng trong việc thực hiện các quyền của công dân, bao gồm quyền tham gia, quyền tự do thể hiện ý kiến, quyền lao động, quyền nghỉ ngơi, quyền tài sản, quyền nhân thân…; sự công bằng trong phân phối giá trị xã hội và sự công bằng về cơ hội; sự công bằng và hiệu quả trong tái phân phối; các giá trị, lợi ích sự công bằng trong hoạt động cung cấp dịch vụ công.

Tám là, liêm chính. Liêm chính và tham nhũng là hai phương thức hành vi đối lập nhau. Tham nhũng là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định của xã hội, làm tăng chi phí giao dịch tạo ra sự lãng phí về nguồn lực xã hội; tham nhũng còn làm suy giảm niềm tin của người dân đối với nhà nước. Vì thế, xây dựng một nhà nước liêm chính, minh bạch và hiệu quả cao là mục tiêu nhiều nước hướng đến. 

Chín là, ổn định xã hội. Ổn định là cơ sở để thực hiện sự phát triển bền vững, là nguyện vọng và lợi ích lớn nhất của người dân. Ổn định có nghĩa là sự ổn định và hòa bình trong một quốc gia, là trật tự kỷ cương xã hội được duy trì và bảo đảm; đoàn kết và đồng thuận xã hội được củng cố. Ở đây sự ổn định còn bao hàm tính liên tục và ổn định của hệ thống chính sách. Chỉ có ổn định xã hội mới có thể thực hiện được các mục tiêu phát triển, người dân mới có thể an cư lạc nghiệp. Vì thế, ổn định là tiền đề của sự phát triển bền vững, là một trong những mục tiêu của quản trị công.

2. Hệ thống tiêu chí đánh giá quản trị công

Việc xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá quản trị công là tiền đề để nhận thức một cách khách quan, chính xác đối với thực trạng quản trị của một  quốc gia. Có một hệ thống tiêu chuẩn mới đánh giá đúng hiệu quả quản trị, phát hiện ra những vấn đề cần cải thiện, thấy được khoảng cách giữa hiện thực quản trị với trạng thái lý tưởng của quản trị, từ đó đề ra phương hướng để cải cách và đổi mới. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, một số tổ chức quốc tế đã tiến hành hợp tác với từng quốc gia riêng biệt để thiết lập nên chỉ tiêu đánh giá quản trị phù hợp với điều kiện của quốc gia đó. Điều này làm cho các chỉ tiêu đánh giá quản trị vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù, vừa phản ánh các giá trị chung mà thế giới thừa nhận và theo đuổi, vừa phản ánh điều kiện đặc thù của mỗi quốc gia. Trên cơ sở tham khảo các chỉ tiêu đánh giá quản trị do một số tổ chức quốc tế đề xuất, căn cứ điều kiện đặc thù và mục tiêu phát triển, cần xây dựng các tiêu chí đánh giá quản trị công ở Việt Nam như sau:

- Tiêu chí đánh giá dịch vụ công. Dịch vụ công và hoạt động cung cấp dịch vụ công là một nội dung quan trọng để đánh giá hiệu quả quản trị công của một quốc gia. Các chỉ tiêu chủ yếu phản ánh trực tiếp thực trạng cung cấp dịch vụ công của một quốc gia bao gồm: tỷ lệ ngân sách nhà nước dùng cho việc cung ứng dịch vụ công cơ bản tính theo bình quân đầu người; thực trạng bảo đảm xã hội; tỷ lệ phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; mức độ bao phủ của bảo hiểm y tế; sự giúp đỡ của nhà nước đối với những người có hoàn cảnh khó khăn; tính đồng bộ và chất lượng của cơ sở hạ tầng; việc duy trì trật tự và an toàn xã hội; hỗ trợ giải quyết việc làm; bảo vệ môi trường và chất lượng môi trường; mức độ hài lòng của người dân và tổ chức đối với dịch vụ công cũng như sự phục vụ của các cơ quan nhà nước.

- Tiêu chí đánh giá việc bảo đảm thực hiện quyền con người và quyền công dân. Bảo vệ và mở rộng quyền con người, quyền công dân là mục tiêu quan trọng nhất của quản trị công. Nó vừa được thể hiện trong hệ thống chính sách, pháp luật của nhà nước, vừa thể hiện trong thực tế đời sống chính trị của nhà nước và công dân. Các chỉ tiêu phản ánh việc thực hiện quyền con người và quyền công dân bao gồm: sự ghi nhận và bảo vệ của pháp luật đối với quyền công dân; mức độ thực hiện quyền công dân theo quy định của pháp luật; việc bảo vệ quyền của các nhóm yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người nghèo...; sự bảo vệ và khoan dung đối với những ý kiến thuộc về thiểu số và người có ý kiến khác; ý thức về quyền con người của quan chức và công dân; năng lực tự bảo vệ mình của công dân; sự bảo vệ của pháp luật đối với công dân...

- Tiêu chí đánh giá sự tham gia của công dân. Các tiêu chí chủ yếu để đánh giá mức độ tham gia của công dân bao gồm: hệ thống pháp luật về bầu cử, phạm vi thực hiện bầu cử trực tiếp, mức độ cạnh tranh trong bầu cử, mức độ tiếp xúc giữa cử tri với ứng viên trước bầu cử; tự quản ở cơ sở; việc thực hiện cơ chế lắng nghe ý kiến, đối thoại, thảo luận, tranh luận và phản biện xã hội trong quá trình hoạch định chính sách; tính tự chủ và chất lượng hoạt động của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội; môi trường thể chế cho hoạt động của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội; mức độ ảnh hưởng của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội đối với quá trình chính sách; sự hợp tác giữa các cơ quan nhà nước và các đoàn thể nhân dân trong hoạt động cung ứng dịch vụ công; mức độ sử dụng mạng internet của người dân vào hoạt động nêu sáng kiến chính sách, tham gia thảo luận và đề xuất ý kiến, kiến nghị...

- Tiêu chí đánh giá tính công khai và minh bạch. Các tiêu chí cơ bản để đánh giá mức độ công khai, minh bạch bao gồm: quy định pháp luật về công khai thông tin và hiệu quả thực hiện các quy định đó; số lượng và chất lượng của truyền thông chính trị mức độ công khai hóa trong quá trình hoạch định chính sách; mức độ công khai trong hoạt động của các cơ quan công quyền; sự nắm bắt của công dân đối với các vấn đề chính trị; tính tự chủ của báo chí; sự đa dạng về phương thức tiếp cận thông tin hoạt động của hệ thống chính trị của công dân; mức độ công khai và tính chân thực về thu nhập và tài sản của đội ngũ cán bộ, công chức...

- Tiêu chí đánh giá tính trách nhiệm. Các tiêu chí chủ yếu để đánh giá tính trách nhiệm của cơ quan nhà nước bao gồm: trách nhiệm trong phục vụ công; trách nhiệm giám sát khi ủy quyền việc cung ứng dịch vụ công cho doanh nghiệp và tổ chức xã hội; mức độ chịu trách nhiệm đối với hành vi của công chức trong thực thi công vụ; việc xử lý đối với những biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm; các kênh để thực hiện sự tương tác giữa công chức với người dân; sự tôn trọng của công chức đối với ý kiến của người dân; cơ chế tiếp nhận và xử lý ý kiến, kiến nghị của công dân; cơ chế tư vấn chính sách của các cơ quan nhà nước; tính kịp thời trong việc điều chỉnh, sửa đổi các chính sách có liên quan; mức độ phản ánh nhu cầu của công dân trong chính sách; sự ảnh hưởng từ các ý kiến của công dân đối với chính sách; số lượng tố tụng hành chính và kết quả tố tụng hành chính...

- Tiêu chí đánh giá tính pháp quyền. Với tư cách một đặc trưng quan trọng của quản trị công, các tiêu chí cơ bản đánh giá tính pháp quyền của nhà nước bao gồm: thực trạng hoạt động lập pháp và tính đồng bộ của hệ thống pháp luật; sự tuân thủ pháp luật của các tổ chức trong hệ thống chính trị; sự hiểu biết và tôn trọng pháp luật của công chức và công dân; vai trò của pháp luật trong thực tế đời sống chính trị; tính tự chủ của hoạt động lập pháp và tư pháp; vai trò của đội ngũ luật sư; ý thức pháp luật của công chức và người dân; cơ chế kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp trong xây dựng chính sách của các cơ quan nhà nước và mức độ chấp hành các phán quyết tư pháp...

- Tiêu chí đánh giá tính hợp pháp. Các tiêu chí cơ bản dùng để đánh giá tính hợp pháp bao gồm: sự thừa nhận của công dân đối với hiến pháp; sự thừa nhận của công dân đối với các cơ quan nhà nước; uy tín của các cơ quan nhà nước; sự tín nhiệm của công dân đối với chính quyền cơ sở; mức độ tín nhiệm của công dân đối với công chức; mức độ hài lòng của công dân đối với chế độ chính trị - xã hội; sự thừa nhận của công dân đối với hình thái ý thức chủ yếu và thái độ của công dân đối với con đường phát triển của đất nước...

- Tiêu chí đánh giá công bằng xã hội. Các tiêu chí cơ bản đánh giá mức độ công bằng xã hội bao gồm: hệ số GINI; hệ số ENGEL; khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng; mức độ công bằng trong giáo dục, trong chăm sóc sức khỏe và y tế; trong giải quyết việc làm; tỷ lệ cán bộ nữ; tính đại diện của đội ngũ công chức; tính đại diện của cơ quan lập pháp; mức độ công bằng trong việc cung cấp các dịch vụ công cơ bản; mức độ chăm lo lợi ích cho các nhóm yếu thế...

- Tiêu chí đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả. Đánh giá hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước bao gồm tỷ lệ chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách nhà nước; năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức; tỷ lệ sai lầm của chính sách; tỷ lệ giữa “đầu vào” và “đầu ra” của dự án công; mức độ phát triển của chính phủ điện tử; sự phản ứng kịp thời và năng lực xử lý công việc của các cơ quan nhà nước; mức độ hài lòng của công dân đối với chính sách và hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước...

- Tiêu chí đánh giá mức độ liêm chính. Đánh giá mức độ liêm chính bao gồm một số phương diện chủ yếu sau: hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng và hiệu quả hoạt động, việc xử lý công chức tham nhũng; hoạt động kiểm toán đối với đội ngũ cán bộ, công chức; giám sát đối với dự toán ngân sách; sự chế ước và kiểm soát quyền lực trong hệ thống; sự chế ước và kiểm soát của công dân đối với quyền lực nhà nước; sự giám sát của báo chí đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước; cơ chế thực hiện tố giác tham nhũng và bảo vệ người tố giác tham nhũng; tính kỷ luật của đội ngũ công chức.

- Tiêu chí đánh giá sự ổn định xã hội. Tiêu chí cơ bản đánh giá ổn định xã hội bao gồm: năng lực xử lý của các cơ quan nhà nước đối với các sự kiện bất thường; tính liên tục và ổn định của chính sách; cảm nhận của người dân về mức độ an toàn xã hội; thực trạng về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; số lượng các vụ việc tụ tập đông người; tỷ lệ lạm phát; số lượng khiếu kiện; thực trạng bạo lực gia đình và bạo lực xã hội...

TS. Nguyễn Trọng Bình, Học viện Chính trị khu vực IV

----------------------------

Ghi chú:
(1) Zhang Cheng-fu, On Open Government, Journal of Renmin University of China, No4, 2014.

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Sự biến đổi đời sống tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0

Ngày đăng 26/06/2019
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong hơn 30 năm qua đã làm chuyển biến sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có đời sống tôn giáo, tín ngưỡng. Bài viết này trình bày những biến đổi của đời sống tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) trên các phương diện: biến đổi về diện mạo và cấu trúc tôn giáo; biến đổi niềm tin tôn giáo và hệ lụy của nó; biến đổi về phương thức truyền giáo và sống đạo, góp phần nâng cao nhận thức về đời sống tôn giáo ở nước ta hiện nay.

Về chủ nghĩa dân túy và đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện của nó ở Việt Nam hiện nay

Ngày đăng 24/06/2019
Chủ nghĩa dân túy là hiện tượng phức tạp, được chú ý nhiều trong đời sống chính trị trên thế giới hiện nay. Bài viết phân tích nguồn gốc, đặc trưng của chủ nghĩa dân túy và những biểu hiện chính của nó trong thế giới đương đại; đồng thời phân tích những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay, mặc dù nó chưa trở thành trào lưu điển hình và chưa chi phối đời sống chính trị - xã hội nhưng đã xuất hiện và có nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh, ngăn ngừa kịp thời.

Lại bàn về tự do báo chí (Kỳ 1)

Ngày đăng 20/06/2019
Ngay từ khi báo chí ra đời, vấn đề tự do báo chí đã xuất hiện. Và trong suốt lịch sử tồn tại, phát triển của báo chí, vấn đề tự do báo chí luôn luôn đồng hành như hình với bóng, trở thành chủ đề trung tâm của những cuộc tranh luận quyết liệt, không bao giờ dứt, thậm chí là nguyên nhân của không biết bao nhiêu vụ, việc rắc rối, phức tạp, kể cả tù đày và đổ máu.

Xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam

Ngày đăng 11/06/2019
Đã có nhiều nghiên cứu về chủ đề xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển, dẫn đến sự đa dạng trong nhận thức về khái niệm, chức năng, đặc điểm của nhà nước kiến tạo phát triển. Bài viết đưa ra quan niệm, phân tích các đặc điểm, những điều kiện cần thiết để xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam.

Vai trò của Bộ quản lý ngành, lĩnh vực trong việc cơ cấu lại đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn bộ máy, nâng cao tự chủ và đẩy mạnh xã hội hóa

Ngày đăng 06/06/2019
Ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã có Nghị quyết số 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó xác định rõ mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể và một số nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Triển khai Nghị quyết số 19-NQ/TW, Chỉnh phủ đã ban hành Chương trình hành động kèm theo Nghị quyết số 08/NQ- CP với 52 nhiệm vụ và giao trách nhiệm cụ thể cho từng bộ, ngành và địa phương thực hiện. Bài viết tập trung phân tích, làm rõ một số vấn đê cần nghiên cứu khi xây dựng và hoàn thiện thể chế liên quan đến đổi mới, sắp xếp, nâng cao tỉnh tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập và đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.

Tiêu điểm

Hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu chiến lược cán bộ của Đảng

Tiếp tục quán triệt, hoàn thiện Chiến lược cán bộ và nhiệm vụ đề ra tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: “Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ” và “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và thực hiện thành công Chiến lược cán bộ của Đảng, nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đặt ra đối với Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ trong thời gian tới là cần phải thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW thành các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức (CBCC).