Hà Nội, Ngày 26/05/2019

Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khóa XII của Đảng         

Ngày đăng: 07/03/2019   03:29
Mặc định Cỡ chữ
Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khóa XII là một bước đột phá về công tác cán bộ của Đảng, với nhiều nội dung quan trọng và cấp thiết. Bài viết tập trung khái quát và luận giải một số khía cạnh mới của vấn đề kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, nhất là sự cần thiết, thực trạng, nguyên nhân và biện pháp cơ bản nhằm kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Thông qua đó, góp phần nâng cao chất lượng công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ của Đảng trong thời kỳ mới.
Ảnh minh họa: internet

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ được thông qua tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng đối với công tác cán bộ - công việc gốc của Đảng, khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Nghị quyết đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng về công tác cán bộ trong thời kỳ mới của cách mạng nước ta, trong đó vấn đề kiểm soát chặt chẽ quyền lực là một trong những nội dung trọng tâm, khâu đột phá trong công tác cán bộ.

Vấn đề kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ đã được Đảng ta đề cập trong Văn kiện Đại hội lần thứ XII và Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 khóa XII. Tuy nhiên, tại Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khóa XII, vấn đề kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ đã được quan tâm sâu sắc, bàn luận kỹ lưỡng, được thể hiện xuyên suốt, đầy đủ và toàn diện ở tất cả các nội dung của Nghị quyết (từ thực trạng, nguyên nhân, mục tiêu, quan điểm, khâu đột phá và nhiệm vụ, giải pháp). Đặc biệt, nội dung này đã được xác định là một trong 2 trọng tâm, một trong 5 đột phá và một trong 8 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của công tác cán bộ.

Trong thời gian qua, Đảng ta đã chú trọng hoàn thiện các quy định, quy trình, thủ tục, thẩm quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong công tác cán bộ, nhưng việc lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực trong công tác cán bộ vẫn chưa được khắc phục và đẩy lùi một cách hiệu quả. Thực tiễn cho thấy, “trong lĩnh vực công tác cán bộ rất dễ lạm dụng, lộng quyền, lợi dụng quyền lực để trục lợi, như: nhiều trường hợp thực hiện công tác cán bộ không đúng quy định, không công khai, minh bạch, công tâm, khách quan; một số nơi, một số trường hợp thi tuyển công chức, viên chức chỉ mang tính hình thức; quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, đi học, đi đào tạo không theo tiêu chuẩn… Trong công tác cán bộ, tình trạng tiền tệ, hậu duệ, quan hệ, môn đệ... hoặc bao che, phe nhóm, trù dập, định kiến,... vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi”(1). Nếu tình trạng này không được kiểm soát sẽ dẫn đến những hệ lụy nguy hại và khó lường.

Mặt khác, các dạng lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực trong công tác cán bộ đang bị “biến tướng” một cách tinh vi, phức tạp và khó nhận biết hơn trước. Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW, Đảng ta đã chỉ rõ: “Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận. Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực”(2). 

Nguyên nhân của tình trạng trên là do còn có những thiếu sót, hạn chế đối với việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chưa có cơ chế kiểm soát quyền lực một cách hiệu quả. Điều này cũng được Đảng ta thẳng thắn thừa nhận: “Phân công, phân cấp, phân quyền chưa gắn với ràng buộc trách nhiệm, với tăng cường kiểm tra, giám sát và chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Chưa có biện pháp hữu hiệu để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền và những tiêu cực trong công tác cán bộ. Thiếu chặt chẽ, hiệu quả trong phối hợp kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm”(3). 

Để giải quyết tình trạng trên, Nghị quyết số 26-NQ/TW đã xác định một trong tám nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu là “kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ”, trong đó có đưa ra những phương hướng, nội dung, biện pháp mang tính toàn diện, cụ thể, thiết thực và khả thi:

Một là, “xây dựng, hoàn thiện thể chế để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn phải được ràng buộc bằng trách nhiệm”(4).

Đây là nội dung, biện pháp có ý nghĩa trực tiếp, quyết định nhất. Nội dung, biện pháp này thống nhất với Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa XII. Theo đó, cần có cơ chế kiểm soát đa chiều, đa diện với nhiều kênh khác nhau, như: kiểm soát bằng thể chế kết hợp với kiểm soát bằng đạo đức, trách nhiệm; kiểm soát của bên trên đối với bên dưới và ngược lại; kiểm soát chéo giữa các cơ quan, tổ chức; kiểm soát trong Đảng thống nhất, đồng bộ với kiểm soát của mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị; kiểm soát của cơ quan chuyên trách việc kiểm soát quyền lực kết hợp với cơ quan không chuyên trách; kiểm soát của cơ quan quyền lực kết hợp với kiểm soát của cơ quan báo chí, dư luận, v.v… Trong đó, Nghị quyết số 26-NQ/TW đề cao cơ chế “mở rộng dân chủ, phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ. Tăng cường cơ chế chất vấn, giải trình trong công tác cán bộ”(5).

Mặt khác, Nghị quyết số 26-NQ/TW yêu cầu phải quy định chặt chẽ và thực hiện nghiêm quy trình công tác cán bộ; xác định đầy đủ, rõ ràng trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong công tác cán bộ theo hướng bảo đảm phải rõ quyền, đủ quyền, đúng quyền và thực quyền. Về nguyên tắc, công tác cán bộ là của tập thể lãnh đạo; cá nhân, kể cả người đứng đầu cấp ủy đảng không có quyền quyết định, nhưng sự lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực trong công tác cán bộ vẫn có thể xảy ra, nhất là ở người đứng đầu. Vì vậy, “thể chế kiểm soát quyền lực” được đặt ra là cần nghiên cứu, xây dựng các luật, văn bản dưới luật quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm người đứng đầu trong tất cả các khâu, các bước của công tác cán bộ, nhất là quyền giới thiệu, tiến cử, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ; trách nhiệm liên đới nếu có cán bộ dưới quyền, thuộc quyền phạm sai lầm, khuyết điểm. 

Đặc biệt, quyền lực phải được kiểm soát bằng chính quyền lực, do đó cần thiết lập cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm soát quyền lực có “quyền lực thực sự”, có tính độc lập và đủ thẩm quyền để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. 

Hai là, “thực hiện công khai, minh bạch tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ nhân sự”(6) trong bổ nhiệm, đề bạt cán bộ. 

Đây là biện pháp có ý nghĩa hết sức quan trọng để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Tại cuộc tiếp xúc cử tri ngay sau Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Công khai là thanh bảo kiếm chữa lành các vết thương. Còn che giấu, bưng bít đi thì mới mất uy tín và càng làm cán bộ hư hỏng. Do đó, cần tránh quan niệm coi việc bổ nhiệm, đề bạt, sử dụng cán bộ là công việc bí mật và chỉ lấy ý kiến của một vài người để thay cho quyết định của tập thể. Ngược lại, phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong tất cả các khâu, các bước của công tác cán bộ, phải “cung cấp đầy đủ thông tin và biết lắng nghe ý kiến của cấp ủy cấp dưới, của các cấp, các ngành liên quan, của quần chúng trong cơ quan, đơn vị và của cấp ủy, chính quyền địa phương nơi cán bộ sinh sống. Nhưng dân chủ, công khai, minh bạch phải đúng nguyên tắc, phù hợp với phạm vi hoạt động và ảnh hưởng của cán bộ”(7).

Bên cạnh đó, cần tạo cơ chế cạnh tranh lành mạnh trong công tác cán bộ, nhất là trong các khâu tuyển dụng, đánh giá, quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật cán bộ. Cần quy định rõ tiêu chuẩn chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý các cơ quan trong hệ thống chính trị, bảo đảm tính định lượng cụ thể để tạo ra sự rõ ràng, khách quan, qua đó có cơ sở giám sát, kiểm tra đầy đủ, chính xác. Thực hiện rộng rãi, chặt chẽ, nghiêm túc việc thi tuyển các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý với mục tiêu lựa chọn được những người xứng đáng, có đức, có tài, bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý. 

Thực tế thí điểm cho thấy, công khai thi tuyển đã tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, tránh tình trạng khép kín, cục bộ trong công tác tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, cũng như khắc phục tình trạng thao túng, lạm quyền, lợi ích nhóm và tham nhũng trong công tác này. Tuy nhiên, sau thi tuyển cũng cần có cơ chế kiểm soát, giám sát quá trình làm việc của những người được bổ nhiệm thông qua thi tuyển.
Ba là, “xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong công tác cán bộ”(8). 

Để thực hiện tốt nội dung này, đòi hỏi tiếp tục đồng bộ hóa các quy định của Đảng, Nhà nước về kiểm tra, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm. Trong đó, “đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra định kỳ, đột xuất; theo chuyên đề, chuyên ngành; của cấp trên đối với cấp dưới; cấp dưới giám sát cấp trên. Coi trọng cả cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm”(9). Phải siết chặt kỷ luật, kỷ cương; trong xử lý sai phạm phải kịp thời, nghiêm minh, không có “vùng cấm”, không loại trừ bất cứ đối tượng nào, ở bất kỳ cấp nào, giữ bất kỳ cương vị nào. Mọi hành vi lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân, tham nhũng, “lợi ích nhóm” trong công tác cán bộ đều phải được kiểm tra, thanh tra, điều tra, xem xét, kết luận và xử lý nghiêm minh theo kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kể cả khi người có hành vi đó đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu. Hủy bỏ, thu hồi các quyết định không đúng, không phù hợp về công tác cán bộ và xử lý nghiêm minh những tập thể, cá nhân có khuyết điểm, sai phạm, thiếu trách nhiệm hoặc đùn đẩy, né tránh, trù dập. 

Nghị quyết số 26-NQ/TW đã khẳng định rõ ràng, nhất quán vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ đối với công tác xây dựng Đảng và sự phát triển của đất nước cũng như sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Điều này vừa minh chứng cho bước tiến trong tư duy lý luận của Đảng về công tác cán bộ, vừa thể hiện ý chí, quyết tâm chính trị rất cao, cùng với hành động cụ thể, quyết liệt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đối với việc kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ, trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ của Đảng trong thời kỳ mới./.

PGS.TS. Nguyễn Đình Bắc - ThS. Đinh Phú Cường
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

------------------------------------------
Ghi chú:
(1) Cao Văn Thống, Tha hóa quyền lực trong công tác cán bộ và giải pháp chấn chỉnh, Báo Nhân dân cuối tuần, ngày 3/5/2018.
(2),(3),(4),(5),(6),(8),(9) Ban Tuyên giáo Trung ương, Tài liệu học tập các Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (dùng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở), Nxb CTQG, H.2018, tr.22-23, tr.27, tr.49-50, tr.50-51, tr.50, tr.50, tr.50.
(7) Trần Nam Chuân, Cán bộ và công tác cán bộ trong tình hình mới, Tạp chí Tổ chức nhà nước điện tử, ngày 17/01/2018.

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Phát triển xã hội, trọng tâm là đảm bảo an sinh xã hội - những vấn đề đặt ra trong giai đoạn mới

Ngày đăng 24/05/2019
Trong quá trình Đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng và Nhà nước coi phát triển xã hội, đảm bảo ngày càng tốt hơn an sinh xã hội (ASXH) và phúc lợi xã hội (PLXH) là một nhiệm vụ trọng yếu, theo hướng“Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng rộng mở và hiệu quả để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, nhất là nhóm đối tượng chính sách, đối tượng nghèo”

Quá trình công bố “Tài liệu tuyệt đối bí mật” –Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua góc nhìn của khoa học công bố văn kiện

Ngày đăng 23/05/2019
Trước lúc đi xa, trong những tháng năm cuối đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết di chúc để lại cho đời sau. Xác định đây là một văn kiện lịch sử mang tính “cương lĩnh chính trị” cho Đảng cầm quyền, là di huấn cho về đạo đức cách mạng cho đời sau, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đã công bố bản Di chúc ngay sau khi Người mất. Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, nên bản Di chúc được công bố sau khi Bác mất dựa trên cơ sở bản thảo Bác viết năm 1965, trong đó có một số đoạn được bổ sung hoặc thay thế bằng những đoạn tương ứng Bác viết năm 1968 và năm 1969. Đến năm 1989, khi có đủ các điều kiện, Bộ Chính trị Ban Chấp hành trung ương đã công bố toàn bộ các bản Di chúc của Người. Từ việc tìm hiểu toàn bộ quá trình công bố Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua một số tư liệu tài liệu lưu trữ, đồng thời trên cơ sở nghiên cứu các nguyên tắc, phương pháp của khoa học công bố tài liệu văn kiện, chúng tôi xin đưa ra một góc nhìn về quan điểm lịch sử, quan điểm chính trị của Đảng ta trong quá trình công bố văn kiên lịch sử này.

Giải pháp đột phá để chống xuống cấp đạo đức trong Đảng

Ngày đăng 23/05/2019
Chống xuống cấp về đạo đức trong Đảng nhất định phải đứng vững trên hai chân cơ chế và ý thức tu dưỡng, rèn luyện, vì muốn làm người tốt mà cơ chế không hoàn thiện cũng rất khó. Ngược lại, cơ chế hoàn thiện mà con người hỏng thì phá nát bộ máy.

Đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế điều tiết, cơ chế phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Ngày đăng 22/05/2019
Qua hơn 30 năm xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ Đại hội VI (năm 1986) đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã chuyển đổi thành công từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đồng thời hình thành được hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ đời sống kinh tế - xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tăng cường nhận thức và giải pháp về hoàn thiện mô hình tổng quát của hệ thống chính trị Việt Nam

Ngày đăng 21/05/2019
Từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3/1989), Đảng ta dùng khái niệm “hệ thống chính trị” thay cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản”. Đó là bước phát triển mới trong nhận thức lý luận về hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội XII chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành”. Gần đây, Hội nghị Trung ương 5, khóa XII nhấn mạnh: phải đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cán bộ của toàn hệ thống chính trị; giải quyết tốt quan hệ giữa nhà nước, thị trường, xã hội phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tiêu điểm

Hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu chiến lược cán bộ của Đảng

Tiếp tục quán triệt, hoàn thiện Chiến lược cán bộ và nhiệm vụ đề ra tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: “Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ” và “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và thực hiện thành công Chiến lược cán bộ của Đảng, nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đặt ra đối với Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ trong thời gian tới là cần phải thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW thành các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức (CBCC).