Hà Nội, Ngày 26/05/2019

Nâng cao dân trí, mở rộng dân chủ và giữ gìn bản sắc dân tộc trong bối cảnh hiện nay

Ngày đăng: 07/03/2019   03:30
Mặc định Cỡ chữ
Bản sắc dân tộc là tổng thể những phẩm chất, đặc điểm, tính cách để tồn tại và biểu hiện của một cộng đồng - dân tộc, thể hiện phẩm chất của một dân tộc trong tính riêng biệt của hệ thống toàn cầu. Ngày nay, giữ gìn bản sắc dân tộc là mối quan tâm của các quốc gia trong một thế giới đang có nhiều thay đổi. Giữ gìn bản sắc dân tộc không chỉ là bảo tồn, phát huy các giá trị của dân tộc, mà phải khắc phục được những điểm không còn phù hợp, đưa các giá trị lên tầm cao hơn, đồng thời bổ sung những điểm mới phù hợp với thời đại nhằm làm cho bản sắc dân tộc trở thành động lực của sự phát triển.
Ảnh minh họa: internet

Bản sắc dân tộc là tổng thể những phẩm chất, đặc điểm, tính cách để biểu hiện sự tồn tại của một cộng đồng - dân tộc, thể hiện nét đặc trưng của một dân tộc trong tính riêng biệt. Dân tộc nào cũng có bản sắc của mình. Tuy nhiên, khi nói bản sắc dân tộc cần tránh cả hai khuynh hướng: hoặc tuyệt đối hóa tính đặc thù dân tộc hoặc phủ nhận tính đặc thù dân tộc. Đảng ta đã nhận định “khi nói bản sắc dân tộc, không có nghĩa mọi cái phải hoàn toàn độc đáo ngoài ta ra, không dân tộc nào có cả”(1). Bản sắc dân tộc không phải là cái gì trừu tượng khó thấy. Bản sắc dân tộc được biểu hiện trong đời sống hàng ngày của một dân tộc. Theo quan điểm của Đảng ta, “bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước”(2). Với cách tiếp cận đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ những đặc điểm cơ bản của dân tộc Việt Nam, đó là: “lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…”(3). Các đặc điểm này không ngừng được củng cố, bổ sung, hoàn thiện để phù hợp với các giai đoạn phát triển đi lên của đất nước.  

Ngày nay, vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trong một thế giới đang có nhiều đổi thay. Giữ gìn bản sắc dân tộc không chỉ là bảo tồn, phát huy các giá trị của dân tộc, mà phải khắc phục được những điểm không còn phù hợp, đưa các giá trị lên tầm cao hơn; đồng thời bổ sung những đặc điểm mới phù hợp với thời đại nhằm làm cho bản sắc dân tộc thực sự trở thành động lực của sự phát triển. Việc giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam có vai trò quan trọng nhằm tạo ra động lực thúc đẩy đưa nước ta hội nhập phát triển cùng thế giới. Để giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam có hiệu quả cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:.

Thứ nhất, giữ gìn bản sắc dân tộc gắn liền với nâng cao dân trí, thực hiện dân chủ trong xã hội.

Trong bối cảnh một thế giới đang có nhiều đổi thay mạnh mẽ như hiện nay, việc giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam không chỉ là điều kiện để phát triển lành mạnh con người và xã hội mà còn mang ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững và tiến bộ của đất nước. Để giữ gìn và phát huy có hiệu quả bản sắc dân tộc, ngoài việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của bản sắc dân tộc; phát huy các đặc điểm bản sắc dân tộc, v.v... cần phải quan tâm nâng cao dân trí, thực hiện dân chủ trong xã hội. Bởi lẽ, khi dân trí được nâng cao, dân chủ được thực hiện triệt để thì nhiều vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước mới được giải quyết một cách hiệu quả, trong đó có việc giữ gìn bản sắc dân tộc. Qua thực tiễn phát triển của thế giới cho thấy, nơi nào, ở đâu trình độ dân trí của quần chúng được nâng cao, dân chủ được phát huy sâu rộng, thì ở đó thực hiện tốt việc giữ gìn bản sắc dân tộc của mình.
Vấn đề dân trí, dân chủ trong xã hội được Đảng ta luôn chú trọng, coi đây là những chiến lược, giải pháp phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam. Bên cạnh lấy phát triển kinh tế làm trung tâm, Đảng ta còn tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân với mặt bằng dân trí và sự hiểu biết của cộng đồng dân cư ở trình độ cao. Vì vậy, cùng với đổi mới về kinh tế, chúng ta đang từng bước đổi mới về chính trị, xã hội, văn hóa; đưa ra mục tiêu phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân, xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ nhân loại,... Đảng và Nhà nước đã xác định phát triển khoa học và giáo dục là quốc sách hàng đầu; tăng trưởng phát triển kinh tế phải gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Những chủ trương đúng đắn đó có tác động khơi dậy và nâng cao tính năng động, chủ động của tất cả các tầng lớp dân cư góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Qua hơn 30 năm đổi mới, cùng với những thành công trên lĩnh vực kinh tế, nước ta đã đạt được những kết quả to lớn trên các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội. Đặc biệt, mối quan hệ giữa tăng trưởng, phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội được giải quyết một cách hiệu quả. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tục, nhất là trong giai đoạn gần hai thập niên đầu của thế kỷ XXI. Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng về loại hình trường, lớp từ cấp mầm non đến đại học. Cho đến nay, tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở; công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có những tiến bộ rõ nét, góp phần hạ thấp đáng kể tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, khống chế thành công nhiều đại dịch, nâng cao tuổi thọ trung bình của người dân; chỉ số phát triển con người không ngừng tăng lên; công tác tuyên truyền, thông tin đại chúng, các loại hình văn hóa nghệ thuật phát triển phong phú cả về hình thức và nội dung. Hiện nay, truyền thanh, truyền hình, điện thoại đã được phủ sóng đến hầu hết mọi khu vực trong cả nước, tạo điều kiện để người dân tiếp cận thông tin, vui chơi giải trí, nắm bắt chủ trương, đường lối phát triển của Đảng, nâng cao sự hiểu biết trên mọi lĩnh vực cuộc sống...

Vấn đề dân chủ trong xã hội đã có những chuyển biến mạnh mẽ. Các cơ chế và chính sách mới đã mở rộng quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, nhất là thành phần kinh tế tư nhân, mọi người dân được phép tự do kinh doanh những ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Trong sinh hoạt tư tưởng, người dân được tự do thảo luận nhiều vấn đề; sự thảo luận và đối thoại trong Quốc hội thẳng thắn, công khai; nhân dân được tham gia trực tiếp vào những vấn đề trọng đại của đất nước. Từ việc giải quyết tháo gỡ nhiều vấn đề của xã hội, chúng ta đang từng bước hoàn thiện cơ chế dân chủ hoạt động theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng” trên cơ sở thực hiện tốt quyền làm chủ của nhân dân.
Một xã hội phát triển phải giải quyết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, trong đó chú trọng nâng cao dân trí, mở rộng dân chủ cho quần chúng nhân dân. Vấn đề này liên quan mật thiết tới việc giữ gìn bản sắc dân tộc. Bởi lẽ, khi dân trí được nâng cao, người dân sẽ nhận thức đúng đắn, đầy đủ hơn những thuận lợi và khó khăn của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nhận thức được tầm quan trọng của việc giữ gìn bản sắc dân tộc đối với sự tồn vong và phát triển của đất nước. Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay muốn phát huy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết, đức tính cần cù, sáng tạo... đòi hỏi người dân phải có kiến thức, có trình độ, có chuyên môn, có tay nghề. Ví như, yêu nước không chỉ thể hiện sự trung thành với Đảng, chế độ và nhân dân, mà còn phải biết cách thức làm giàu một cách chính đáng, biết làm chủ khoa học - công nghệ, biết ứng xử một cách linh hoạt trước những vấn đề phức tạp của thế giới. Hoặc, cần cù không chỉ dừng lại ở chịu khó, siêng năng, tích cực mà còn phải biết sáng tạo, đổi mới, biết tiếp thu, học hỏi những cái hay, gạt bỏ những cái lỗi thời, lạc hậu.

Mặt khác, khi dân chủ được mở rộng sẽ góp phần hình thành thái độ, tính tích cực chính trị, sự chủ động, nhu cầu và sự tự giác tham gia của cá nhân công dân trong cuộc đấu tranh nhằm loại bỏ những hành vi phản dân chủ đang tồn tại trong đời sống cộng đồng. Ngược lại, nếu dân chủ không được mở rộng sẽ dẫn tới tình trạng người dân thờ ơ đối với xã hội, suy giảm niềm tin vào chế độ, đây chính là một trong những nguyên nhân làm suy giảm và đánh mất tiềm năng sáng tạo, mất động lực để phát triển.

Khi có thêm nhiều kênh để thực hiện dân chủ, người dân sẽ được tham gia nhiều hơn và thực chất hơn vào mọi công việc của đất nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Đây chính là cơ sở để tinh thần yêu nước, đoàn kết, đức tính cần cù, sáng tạo,... của người dân được phát huy hiệu quả nhất, khi đó mọi người sẽ năng động, sáng tạo, tích cực, trách nhiệm trong công việc để xây dựng đơn vị, cơ quan, địa phương phát triển. Dân chủ được thực hiện sẽ có tác dụng mạnh mẽ đối với tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Thực tiễn phát triển đất nước trong những năm qua cho thấy, ở đâu vi phạm dân chủ thì ở đó sẽ mất đoàn kết. Nơi nào chính quyền không đảm bảo quyền dân chủ thì nơi đó không có sự ủng hộ của nhân dân. Có dân chủ thực sự mới bảo đảm được đoàn kết. Vì vậy, giữ gìn bản sắc dân tộc luôn gắn liền với việc nâng cao dân trí và dân chủ trong xã hội. Việc hướng tới nâng cao dân trí, thực hiện dân chủ cho mọi người dân là cách thức "chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính"(4), từ đó góp phần giữ gìn hiệu quả bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay. 

Thứ hai, khơi dậy và phát huy những ưu điểm của bản sắc dân tộc Việt Nam.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập hiện nay, để giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam, một trong những cách làm hiệu quả là chủ động khơi dậy và phát huy những ưu điểm của bản sắc dân tộc Việt Nam vào quá trình hội nhập, phát triển.
Trong điều kiện tham gia hội nhập quốc tế hiện nay, kinh tế là mặt trận hàng đầu và phát triển kinh tế là nhiệm vụ sống còn của dân tộc. Việt Nam đã giành được độc lập tự do, nhưng nếu không có một nền kinh tế hùng cường, nước ta có thể lại rơi vào lệ thuộc, phụ thuộc bên ngoài. Do đó, yêu nước trong giai đoạn hiện nay ngoài việc kế thừa những nội dung yêu nước trước đây thì sẽ tập trung thể hiện cho mục tiêu phát triển kinh tế. Yêu nước ở mỗi người dân chính là cố gắng phấn đấu học tập, rèn luyện, tu dưỡng, lao động để làm giàu cho chính mình và cho xã hội. Nếu như trước đây, trên trận tuyến chống giặc ngoại xâm là nơi mà lòng yêu nước được thể hiện rõ nhất, thì ngày nay, đó chính là trận tuyến xây dựng kinh tế.

Giữ gìn truyền thống yêu nước của dân tộc ta trong giai đoạn hiện nay chính là việc quan trọng đầu tiên để khơi dậy và phát huy ưu điểm của bản sắc dân tộc trong xây dựng, phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền an ninh Tổ quốc. Đó là thi đua làm kinh tế giỏi, làm giàu chính đáng, làm giàu cho bản thân và xã hội. Mọi người cần phải năng động, sáng tạo, mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm; phải cần cù, kỷ luật, tiết kiệm trong lao động; phải tự giác chấp hành nghiêm mọi chủ trương, đường lối, pháp luật của Đảng và Nhà nước; phải có lòng tự hào dân tộc, có ý thức tôn trọng, giữ gìn và phát huy những giá trị vật chất cũng như giá trị tinh thần mà dân tộc ta đã tạo dựng được từ bao đời nay; phải thường xuyên nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó và góp phần làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch trong và ngoài nước; phải thể hiện tinh thần đấu tranh chống lại những cái xấu, cái bảo thủ, thói quen lạc hậu, phản khoa học; đấu tranh chống lại nạn tham nhũng, quan liêu và các tệ nạn xã hội khác,... Như vậy, khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước trong giai đoạn hiện nay là tạo điều kiện để từng người, từng tập thể và cả cộng đồng dân tộc đem hết tinh thần và nghị lực, sức mạnh và tài năng để phát triển đất nước, bảo vệ độc lập dân tộc vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta được hình thành từ những điều kiện địa lý, lịch sử - xã hội của Việt Nam. Tinh thần đoàn kết đã trở thành một sức mạnh nội lực to lớn, gắn kết dân tộc ta thành một khối thống nhất không gì có thể chia tách được, tạo cho dân tộc ta một sức mạnh vượt qua mọi khắc nghiệt của tự nhiên và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Phát huy tinh thần đoàn kết đó là phát huy sự đồng tâm, hợp sức của mọi người dân Việt Nam vì lợi ích chung của dân tộc, vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Bên cạnh đó, cần triệt để loại bỏ tư tưởng bè phái, cục bộ địa phương của một số nhóm người. Phát huy tinh thần đoàn kết trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập hiện nay cần tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố sự đoàn kết trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, làm cho mọi người dân yên tâm, tin tưởng, ủng hộ sự nghiệp đổi mới và hội nhập do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Mặt khác, cần có những giải pháp khắc phục những hạn chế, yếu kém trong quá trình phát triển đất nước những năm qua.

Củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh hiện nay không chỉ làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, mà đó là sự tự nguyện, nhu cầu của mọi người dân. Một trong những vấn đề tạo nên sự đoàn kết đó là sự tương đồng về lợi ích, sự công bằng trong xã hội, sự chia sẻ về cơ hội phát triển. 

Vì thế, các chính sách, chủ trương phát triển phải hướng tới sự hài hòa trong xã hội, tránh để tình trạng khoảng cách giàu nghèo ngày càng bị nới rộng giữa các khu vực, các miền, các địa phương và giữa các nhóm người trong xã hội. Bên cạnh đó, khối đại đoàn kết dân tộc chỉ thực sự có hiệu quả khi nó trở thành trách nhiệm trong toàn bộ hệ thống chính trị và của chính mỗi người dân, trong đó vai trò nòng cốt và hạt nhân lãnh đạo là tổ chức cơ sở đảng. Vì vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, đoàn kết nhất trí là vấn đề quan trọng để xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Ngoài ra, cần thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết dân tộc với các dân tộc trên thế giới, với kiều bào đang sinh sống ở nước ngoài. Thực hiện tốt quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng". Có những chính sách thuận lợi để kiều bào về thăm quê hương và đầu tư, tài trợ góp phần xây dựng đất nước. Đấu tranh ngăn chặn kịp thời mọi âm mưu, thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực phản động trong và ngoài nước. 

Một trong những đặc điểm nổi bật của con người Việt Nam là đức tính cần cù. Truyền thống cần cù của người Việt Nam trong các thời kỳ trước đây đã góp phần tạo nên những thành công của dân tộc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập, đức tính cần cù cần được phát huy mạnh mẽ hơn nhằm hạn chế những nguy cơ, thách thức do toàn cầu hóa, hội nhập đem lại cũng như đáp ứng yêu cầu của thực tiễn phát triển của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Phát huy đức tính cần cù là phát huy sự nhiệt tình, kiên nhẫn, chịu khó trong lao động; lòng say mê công việc, yêu nghề nghiệp; tinh thần trách nhiệm cao nhằm đạt được kết quả tốt nhất cần chú ý một số vấn đề sau: 

Thứ nhất, cần làm cho mọi người dân hiểu rằng khoảng cách về kinh tế giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới còn khá xa. Vì vậy, phải phát huy mạnh mẽ đức tính cần cù, mọi người đều phải chăm chỉ hơn, tích cực hơn, sáng tạo hơn trong học tập, lao động, công tác để làm giàu cho bản thân và cho xã hội. 

Thứ hai, phải khắc phục triệt để tư tưởng bình quân chủ nghĩa trong sản xuất và phân phối, trong cống hiến và hưởng thụ, có như vậy mới kích thích được tính tích cực, sự chủ động, sáng tao và say mê của người lao động.

Thứ ba, cần cù phải gắn với sáng tạo, với kỹ thuật, kỷ luật. Bởi lẽ, nếu chỉ cần cù không thì chưa đủ, mà người lao động còn phải biết sáng tạo, phải làm việc có kỷ luật, kỹ thuật. Điều này không những vừa phát huy được đức tính cần cù mà còn nâng cao chất lượng nguồn lao động để tạo ra kết quả lao động cao, sản phẩm có chất lượng tốt.

Bên cạnh những đặc điểm nêu trên, cần khơi dậy và phát huy các ưu điểm của những đặc điểm khác như: lòng nhân ái, khoan dung; tinh thần lạc quan; ý chí tự cường dân tộc… để chúng có thể bổ sung, hỗ trợ cho nhau tạo ra động lực cho sự phát triển. Cùng với việc phát huy các đặc điểm bản sắc dân tộc, cần chủ động tiếp thu những yếu tố tích cực từ bên ngoài để không ngừng bổ sung làm phong phú hơn nội dung trong các đặc điểm của bản sắc dân tộc Việt Nam. Thực hiện tốt nhiệm vụ này còn góp phần vào chiến lược “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”(5). Như vậy, biết khơi dậy và phát huy ưu điểm của bản sắc dân tộc là một cách làm hiệu quả góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập hiện nay.

Bản sắc dân tộc nói chung, bản sắc dân tộc Việt Nam nói riêng là những đặc điểm cơ bản của dân tộc, quốc gia đó. Các đặc điểm của bản sắc dân tộc được thể hiện trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Việc giữ gìn bản sắc dân tộc là xây dựng niềm tự hào, khơi dậy nguồn sức mạnh nội sinh để phát triển. Ngoài việc nhận diện đúng những nét chính của đặc điểm bản sắc dân tộc Việt nam, phải xác định được vai trò, tầm quan trọng của việc giữ gìn bản sắc dân tộc; bảo tồn, phát huy các mặt tích cực; bổ sung các đặc điểm mới tiến bộ; khắc phục các đặc điểm lỗi thời, cản trở nhằm tạo ra động lực thúc đẩy đất nước phát triển. Giữ gìn bản sắc dân tộc cần được thực hiện thường xuyên, đồng bộ nhiều giải pháp và phải có sự quan tâm, ủng hộ của mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương./.

TS. Phạm Thanh Hà - Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 

---------------------------
Ghi chú:
(1),(2),(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb CTQG, H.1998, tr.23, tr.56, tr.56.
(4),(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, tr.76-77, tr.75-76.

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Phát triển xã hội, trọng tâm là đảm bảo an sinh xã hội - những vấn đề đặt ra trong giai đoạn mới

Ngày đăng 24/05/2019
Trong quá trình Đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng và Nhà nước coi phát triển xã hội, đảm bảo ngày càng tốt hơn an sinh xã hội (ASXH) và phúc lợi xã hội (PLXH) là một nhiệm vụ trọng yếu, theo hướng“Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng rộng mở và hiệu quả để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, nhất là nhóm đối tượng chính sách, đối tượng nghèo”

Quá trình công bố “Tài liệu tuyệt đối bí mật” –Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua góc nhìn của khoa học công bố văn kiện

Ngày đăng 23/05/2019
Trước lúc đi xa, trong những tháng năm cuối đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết di chúc để lại cho đời sau. Xác định đây là một văn kiện lịch sử mang tính “cương lĩnh chính trị” cho Đảng cầm quyền, là di huấn cho về đạo đức cách mạng cho đời sau, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đã công bố bản Di chúc ngay sau khi Người mất. Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, nên bản Di chúc được công bố sau khi Bác mất dựa trên cơ sở bản thảo Bác viết năm 1965, trong đó có một số đoạn được bổ sung hoặc thay thế bằng những đoạn tương ứng Bác viết năm 1968 và năm 1969. Đến năm 1989, khi có đủ các điều kiện, Bộ Chính trị Ban Chấp hành trung ương đã công bố toàn bộ các bản Di chúc của Người. Từ việc tìm hiểu toàn bộ quá trình công bố Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua một số tư liệu tài liệu lưu trữ, đồng thời trên cơ sở nghiên cứu các nguyên tắc, phương pháp của khoa học công bố tài liệu văn kiện, chúng tôi xin đưa ra một góc nhìn về quan điểm lịch sử, quan điểm chính trị của Đảng ta trong quá trình công bố văn kiên lịch sử này.

Giải pháp đột phá để chống xuống cấp đạo đức trong Đảng

Ngày đăng 23/05/2019
Chống xuống cấp về đạo đức trong Đảng nhất định phải đứng vững trên hai chân cơ chế và ý thức tu dưỡng, rèn luyện, vì muốn làm người tốt mà cơ chế không hoàn thiện cũng rất khó. Ngược lại, cơ chế hoàn thiện mà con người hỏng thì phá nát bộ máy.

Đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế điều tiết, cơ chế phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Ngày đăng 22/05/2019
Qua hơn 30 năm xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ Đại hội VI (năm 1986) đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã chuyển đổi thành công từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đồng thời hình thành được hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ đời sống kinh tế - xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tăng cường nhận thức và giải pháp về hoàn thiện mô hình tổng quát của hệ thống chính trị Việt Nam

Ngày đăng 21/05/2019
Từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3/1989), Đảng ta dùng khái niệm “hệ thống chính trị” thay cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản”. Đó là bước phát triển mới trong nhận thức lý luận về hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội XII chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành”. Gần đây, Hội nghị Trung ương 5, khóa XII nhấn mạnh: phải đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cán bộ của toàn hệ thống chính trị; giải quyết tốt quan hệ giữa nhà nước, thị trường, xã hội phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tiêu điểm

Hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu chiến lược cán bộ của Đảng

Tiếp tục quán triệt, hoàn thiện Chiến lược cán bộ và nhiệm vụ đề ra tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: “Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ” và “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và thực hiện thành công Chiến lược cán bộ của Đảng, nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đặt ra đối với Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ trong thời gian tới là cần phải thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW thành các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức (CBCC).