Hà Nội, Ngày 22/03/2019

Thực trạng và giải pháp thực hiện bình đẳng giới đối với công chức, viên chức nữ

Ngày đăng: 06/03/2019   03:22
Mặc định Cỡ chữ
Ngày 31/3/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 515/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thực hiện biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 - 2020. Bài viết khái quát thực trạng, đánh giá kết quả thực hiện bình đẳng giới đối với công chức, viên chức nữ, từ đó đề xuất một số giải pháp thực hiện bình đẳng giới, góp phần xây dựng và phát triển vững chắc đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Ảnh minh họa: internet

1. Thực trạng thực hiện bình đẳng giới đối với công chức, viên chức nữ

Bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức thể hiện ở các nội dung cơ bản là: nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ nữ; tăng cường công tác tạo nguồn quy hoạch cán bộ nữ và bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức nữ bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới; nâng cao năng lực đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chuyên ngành và liên ngành về thực hiện quy định về công tác cán bộ nữ và bình đẳng giới.

Thời gian qua, các bộ, ngành và địa phương đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác bình đẳng giới, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng chính sách, pháp luật và các chương trình, kế hoạch góp phần nâng cao năng lực thực hiện bình đẳng giới cho đội ngũ cán bộ. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cho đội ngũ cán bộ pháp chế ở các bộ, ngành, địa phương được quan tâm thông qua các lớp tập huấn chuyên sâu; tổ chức hội thảo, tập huấn cho thành viên các ban soạn thảo, tổ biên tập các văn bản quy phạm pháp luật và các hoạt động triển khai Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Đặc biệt từ năm 2017, môn học “Giới trong lãnh đạo, quản lý” được chính thức đưa vào các hệ đào tạo thuộc chương trình cao cấp lý luận chính trị tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, từ đó góp phần nâng cao năng lực về bình đẳng giới cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quy hoạch lãnh đạo các cấp. Nội dung nhận thức giới, bình đẳng giới cũng được đưa vào chương trình đào tạo chính khóa tại Trường Sĩ quan Chính trị của Bộ Quốc phòng nhằm nâng cao năng lực bình đẳng giới cho đội ngũ sĩ quan quân đội.

Trong năm 2017, có gần 1.600 lượt cán bộ được tập huấn nội dung bình đẳng giới, công tác bình đẳng giới, trong đó có gần 1.000 lượt cán bộ nữ, chiếm khoảng 70%(1). Ngoài ra, nhiều cơ quan, đơn vị đã lồng ghép tập huấn trong các hoạt động đoàn thể của cơ quan, đơn vị cho hàng nghìn lượt cán bộ…

Các chỉ tiêu của mục tiêu này về cơ bản đã được thực hiện và đánh giá từ đầu nhiệm kỳ và kết quả bầu cử tại Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015 - 2020:
- Đảng bộ, chi bộ cơ sở: tỷ lệ cấp ủy viên là nữ chiếm 19,69% (tăng 1,59% so với nhiệm kỳ trước); tỷ lệ nữ bí thư là 8,0% (tăng 1,8% so với nhiệm kỳ trước);
- Đảng bộ cấp huyện và tương đương: tỷ lệ cấp ủy viên là nữ chiếm 14,3% (tăng 0,3% so với nhiệm kỳ trước); tỷ lệ nữ bí thư là 7,4% (tăng 2,6% so với nhiệm kỳ trước); 
- Đảng bộ trực thuộc Trung ương: tỷ lệ cấp ủy viên là nữ chiếm 13,3% (tăng 1,9% so với nhiệm kỳ trước); tỷ lệ nữ bí thư là 6,3% (tăng 3,1% so với nhiệm kỳ trước). 

Kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 đạt được như sau: 
- Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV là 26,72%, tăng 2,62% so với nhiệm kỳ trước.
- Tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016-2021 cấp tỉnh đạt 26,54% (tăng 1,37%); cấp huyện đạt 27,85% (tăng 3,23%); cấp xã đạt 26,59% (tăng 4,88%).
Năm 2017, có thêm 02 nữ lãnh đạo chủ chốt được bổ nhiệm tại Thông tấn xã Việt Nam và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nâng tỷ lệ các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có lãnh đạo nữ lên 40% (12/30).

Về tỷ lệ nữ lãnh đạo chủ chốt của Ủy ban nhân dân các cấp: cấp tỉnh là 17/289 người, chiếm tỷ lệ 6%; cấp huyện là 230/2.377 người, chiếm tỷ lệ 10%; cấp xã là 2.834/26.044 người, chiếm tỷ lệ 11%(2).

Về tỷ lệ nữ lãnh đạo chủ chốt tại cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội đạt tỷ lệ 30% trở lên thống kê tại khối cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương). Tại cấp trung ương, trong số 1.200 cơ quan nhà nước tại các bộ, ngành có khoảng 30% nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, trong đó có 640 cơ quan có lãnh đạo chủ chốt là nữ (chiếm tỷ lệ 53%); cấp tỉnh là 375/989 cơ quan, đơn vị (tương đương 38%); cấp huyện là 1.571/2.606 cơ quan, đơn vị (tương đương 60%); cấp xã là 1.600/3.375 cơ quan, đơn vị, tương đương 48%(3).
Mặc dù các chỉ tiêu về tỷ lệ nữ tham gia các vị trí quản lý, lãnh đạo chưa đáp ứng yêu cầu của Chiến lược đề ra, song tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Quốc hội khóa XIV đạt 26,8% cao hơn mức 19% của Châu Á và 21% trung bình toàn cầu(4). Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới, năm 2017 Việt Nam đứng thứ 97/144 quốc gia về tỷ lệ nữ tham gia chính trị.

2. Đánh giá kết quả thực hiện bình đẳng giới đối với công chức, viên chức nữ

- Công tác bình đẳng giới tiếp tục nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, giám sát của Quốc hội. Việc Quốc hội thảo luận tại Hội trường về vấn đề liên quan đến bình đẳng giới và phát thanh, truyền hình trực tiếp đến cử tri và nhân dân cả nước đã tạo động lực, khuyến khích sự vào cuộc tích cực của các cấp, các ngành, người dân nói chung và phụ nữ nói riêng. Chính phủ đã chỉ đạo các cấp, các ngành, địa phương triển khai nhiều chương trình, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy công tác bình đẳng giới; triển khai tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tổng kết 10 năm thi hành Luật bình đẳng giới; thẩm định lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; tăng cường phối hợp liên ngành trong kiểm tra, giám sát việc thực hiện Luật bình đẳng giới ở các bộ, ngành và địa phương.
Hệ thống chính sách pháp luật về bình đẳng giới tiếp tục được quan tâm, hoàn thiện, trong đó có nhiều chính sách đặc thù nhằm tạo điều kiện và tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2012/NĐ-CP quy định trách nhiệm của các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc bảo đảm cho các cấp Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý nhà nước. Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới đã được các bộ, ngành quan tâm thực hiện và từng bước có hiệu quả thiết thực. Chính phủ đã tiến hành điều chỉnh, bổ sung một số nội dung của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 để đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay.
Nhận thức của bản thân phụ nữ về vai trò, vị trí trong gia đình và xã hội có nhiều tiến bộ, nhất là nữ cán bộ, công chức, viên chức, nữ doanh nhân, nữ trí thức, cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ. Ngày càng có nhiều phụ nữ nỗ lực, tự tin vươn lên, khẳng định mình trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; trình độ học vấn, năng lực chuyên môn, đời sống vật chất, tinh thần được nâng lên.

- Tuy nhiên, việc triển khai công tác bình đẳng giới tại một số đơn vị, địa phương còn mang tính hình thức, chưa được quan tâm lồng ghép vào trong các hoạt động để đạt được hiệu quả mong muốn.
Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng chiến lược, chương trình, kế hoạch và dự án phát triển kinh tế - xã hội tại các bộ, ngành, địa phương còn ở mức độ hạn chế, thực hiện còn mang tính thủ tục và chưa đi vào thực chất. 

Công tác phát triển, tạo nguồn cán bộ nữ chưa được quan tâm đúng mức. Các bộ, ngành và địa phương hầu như chưa có chính sách riêng đủ mạnh để hỗ trợ, khuyến khích nữ cán bộ, công chức, viên chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng. Việc phát hiện và giới thiệu nguồn cán bộ nữ chưa được triển khai hiệu quả và mang tính chiến lược.
Một số vấn đề nảy sinh có tác động, ảnh hưởng tiêu cực đối với phụ nữ và trẻ em gái trong đời sống, việc làm, an sinh xã hội, nhất là tình trạng bạo lực, xâm hại tình dục. Tình trạng vi phạm quy định đối với lao động nữ tại các khu công nghiệp, lao động nữ làm việc tại khu vực phi chính thức chưa được xử lý kịp thời còn gây bức xúc trong xã hội.

- Về nguồn lực thực hiện:
+ Về kinh phí: ngân sách trung ương phân bổ chưa kịp thời nên việc triển khai công tác tại các bộ, ngành, địa phương còn khó khăn; ngân sách địa phương bố trí hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Tổng ngân sách trực tiếp cho công tác bình đẳng giới năm 2017 là 58,7 tỷ đồng, trong đó ngân sách địa phương tự bố trí là 38,6 tỷ đồng(5). 
+ Về nhân lực: đội ngũ công chức, viên chức làm công tác bình đẳng giới tại các bộ, ngành, địa phương còn mỏng, chủ yếu là kiêm nhiệm do vậy hạn chế về kinh nghiệm trong triển khai thực hiện và tham mưu công tác bình đẳng giới. Một số địa phương chưa bố trí được cán bộ chuyên trách làm công tác bình đẳng giới, còn cho rằng đây chỉ là công tác kiêm nhiệm.
+ Công tác thống kê, báo cáo: công tác này còn gặp nhiều khó khăn, chưa được quan tâm đúng mức, số liệu thống kê giới chưa được công bố định kỳ. Một số bộ, ngành chưa có hướng dẫn chế độ báo cáo thống kê cấp cơ sở, hoặc đã ban hành nhưng chưa cập nhật, điều chỉnh, bổ sung nên không đáp ứng được yêu cầu về phân tổ theo giới tính; chưa bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác thống kê số liệu liên quan đến công tác nữ, bình đẳng giới, chủ yếu là kiêm nhiệm.

- Có thể nêu một số nguyên nhân của những hạn chế nêu trên như sau:
+ Nguyên nhân chủ quan:
Nhận thức về vấn đề bình đẳng giới của một bộ phận tầng lớp nhân dân còn hạn chế. Tư tưởng xem nhẹ nữ giới vẫn tồn tại trong một bộ phận cán bộ lãnh đạo đã tạo ra những rào cản hạn chế phụ nữ khẳng định bản thân trong công việc và cuộc sống.
Sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền một số địa phương, bộ, ngành (nhất là người đứng đầu) còn chưa thật sự sát sao, chưa thực chất nên chưa dành nguồn lực thỏa đáng cho công tác bình đẳng giới tại cơ quan, đơn vị, địa phương.
Chưa có chế tài xử lý việc không hoàn thành các chỉ tiêu của Chiến lược đối với các địa phương hoặc các bộ, ngành phụ trách thực hiện các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới.
+ Nguyên nhân khách quan:
Liên hợp quốc ban hành các Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 đặt ra yêu cầu cao cho mỗi quốc gia trong việc hoàn thành các chỉ tiêu về bình đẳng giới; cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 dẫn đến những yêu cầu cấp bách trong việc hỗ trợ lao động nữ đang làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và lao động nữ làm việc trong khu vực phi chính thức.
Chưa có đủ nguồn lực và kỹ thuật thực hiện điều tra quốc gia về bình đẳng giới để đánh giá, xác định những tồn tại và thách thức đối với công tác bình đẳng giới nói chung và đối với các nhóm phụ nữ yếu thế nói riêng như lao động nữ ở khu vực phi chính thức, nữ dân tộc thiểu số, bạo lực trên cơ sở giới...

3. Một số giải pháp đẩy mạnh thực hiện bình đẳng giới đối với công chức, viên chức nữ

Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về bình đẳng giới tới mọi tầng lớp nhân dân và bản thân người phụ nữ. Xây dựng và triển khai các hoạt động tuyên truyền, các mô hình về bình đẳng giới phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
Triển khai thực hiện Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới với chủ đề “Chủ động phòng, chống bạo lực, xâm hại phụ nữ và trẻ em” nhằm tạo nên đợt cao điểm về tuyên truyền và thu hút sự quan tâm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong việc phòng, chống bạo lực và xâm hại phụ nữ và trẻ em gái.
Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, nhất là phát huy vai trò của người đứng đầu cơ quan, địa phương trong thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; bố trí, phân công công tác đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức đảm bảo đúng quy định về bình đẳng giới.

Hai là, hoàn thiện và thực thi chính sách, pháp luật về bình đẳng giới; tổ chức triển khai thực hiện các văn bản liên quan về công tác bình đẳng giới và phụ nữ như: Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới; Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

Ban hành hướng dẫn thực hiện quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 đối với các trường hợp lao động nữ nghỉ hưu từ ngày 01/01/2018 phù hợp với tình hình thực tế. 
Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển giới quốc gia đảm bảo tính khả thi, hiệu quả. 

Đẩy mạnh việc triển khai các giải pháp để thực hiện các chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 thông qua các chương trình, đề án. 
Nghiên cứu, ban hành các chính sách nhằm tạo điều kiện và khuyến khích phụ nữ tự trau dồi, nâng cao trình độ và tham gia tích cực vào các hoạt động của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. 

Ba là, phát triển nguồn nhân lực nữ đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển đất nước. Từng bước thu hẹp dần khoảng cách giới trong quy định về tuổi nghỉ hưu tại Bộ luật Lao động hiện hành nhằm tạo điều kiện và cơ hội tham gia cho lao động nữ trên mọi lĩnh vực của đời sống, chính trị, văn hóa, xã hội.
Đẩy mạnh thực hiện các chương trình, mô hình cho lãnh đạo nữ trẻ, phát triển kết nối mạng lưới cán bộ nữ, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn giữa cán bộ nữ có kinh nghiệm và cán bộ nữ trẻ.

Bốn là, bố trí nguồn lực, nâng cao năng lực cán bộ. Cân đối, bố trí nguồn lực để thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu của các chương trình, đề án, dự án đã được phê duyệt của các bộ, ngành, địa phương. Củng cố tổ chức, nhân lực và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là đội ngũ nữ cán bộ tiềm năng và cán bộ tham mưu về công tác bình đẳng giới, đặc biệt đối với nữ lãnh đạo trẻ, nữ cán bộ dân tộc thiểu số. 

Năm là, đẩy mạnh việc huy động nguồn lực trong nước và quốc tế dành cho công tác bình đẳng giới; trong việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và tăng cường kiểm tra việc thực hiện công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ; thực hiện pháp luật về bình đẳng giới./.

ThS. Phan Thị Thanh Huyền - Vụ Tổng hợp, Bộ Nội vụ

-----------------------------

Ghi chú:
(1),(2),(3),(4),(5) Báo cáo số 377/BC-CP ngày 12/9/2018 của Chính phủ về việc thực hiện Mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2017.

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Nhà nước kiến tạo phát triển - cách tiếp cận, nội hàm và những đặc trưng

Ngày đăng 21/03/2019
Nhà nước kiến tạo phát triển thực sự cần thiết cho mỗi quốc gia phát triển bền vững trong bối cảnh thế giới đầy biến động. Kiến tạo phát triển không chỉ dừng lại ở lĩnh vực kinh tế mà cần phải đảm bảo cả mặt xã hội và môi trường. Trong xã hội hiện nay, kinh tế, xã hội và môi trường là ba trụ cột cần phải được bảo đảm trong quá trình phát triển hướng tới một xã hội phồn vinh, tiến bộ và bền vững. Nhận diện đúng đắn và đầy đủ về nhà nước kiến tạo phát triển sẽ giúp Việt Nam xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển phù hợp, đáp ứng yêu cầu phát triển ở nước ta hiện nay.

Vận dụng phép biện chứng duy vật trong quá trình xây dựng và thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam

Ngày đăng 18/03/2019
Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã trải qua hơn ba mươi năm, đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, đã, đang và sẽ đem lại những thay đổi lớn lao cho đất nước và dân tộc. Kết quả quan trọng đó có phần quan trọng là Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của triết học mác xít, trong đó có phép biện chứng duy vật vào xây dựng và thực hiện đường lối đổi mới.

Quan điểm của một số tác giả thuyết phân quyền về vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước - giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Ngày đăng 15/03/2019
Hiện nay ở hầu hết các quốc gia, làm thế nào để kiểm soát được quyền lực của nhà nước, tránh tình trạng lộng quyền và tha hóa quyền lực vẫn là vấn đề có tính thời sự. Qua nghiên cứu lý thuyết về kiểm soát quyền lực nhà nước của một số học giả phương Tây, bài viết tiếp cận vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước trên nhiều góc độ như luật pháp, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự giám sát của nhân dân nhằm ngăn chặn, kiểm soát sự lộng quyền, tha hóa quyền lực của bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay.

Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở Việt Nam

Ngày đăng 08/03/2019
Xác định đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết định thành công của quá trình đổi mới giáo dục, vì vậy, ngành Giáo dục luôn coi việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Bài viết khái quát về thực trạng cũng như những giải pháp của ngành Giáo dục nhằm phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. 

Kết quả và kinh nghiệm bước đầu về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế theo Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII)

Ngày đăng 04/03/2019
Tại Hội nghị lần thứ sáu, khóa XII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Qua hơn 1 năm thực hiện Nghị quyết đã đạt kết quả khá rõ ràng và đáng trân trọng.

Tiêu điểm

Hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu chiến lược cán bộ của Đảng

Tiếp tục quán triệt, hoàn thiện Chiến lược cán bộ và nhiệm vụ đề ra tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: “Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ” và “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và thực hiện thành công Chiến lược cán bộ của Đảng, nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đặt ra đối với Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ trong thời gian tới là cần phải thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW thành các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức (CBCC).