Hà Nội, Ngày 22/08/2019

Phương thức lựa chọn các nhà lãnh đạo chiến lược trong hệ thống chính trị Liên Xô trước đây

Ngày đăng: 10/01/2019   04:59
Mặc định Cỡ chữ
Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đã đặt ra mục tiêu tổng quát là xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ… Để mục tiêu đó trở nên hiện thực, cần tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu kinh nghiệm trong nước và quốc tế về xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Bài viết giới thiệu kinh nghiệm lựa chọn các nhà lãnh đạo chiến lược trong hệ thống chính trị ở Liên Xô trước đây.

Trong quá khứ, vai trò người lãnh đạo được đặt lên hàng đầu, thậm chí được thần thánh hóa thành “người trời” hay “con trời”. Sự phát triển của khoa học đã đưa đến những sáng tạo về nhà nước và thể chế khiến cho sự phụ thuộc của cả đất nước vào một cá nhân ngày càng nhỏ đi. Tuy vậy, việc lựa chọn các nhà lãnh đạo chiến lược ở bất cứ thời đại nào, không gian địa lý hay văn hóa nào đều có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự thịnh suy của một tổ chức, một quốc gia.  

Trong thời đại dân chủ và cách mạng khoa học hiện nay, vấn đề lựa chọn người lãnh đạo luôn được đặt ra, nhưng dưới ánh sáng mới của các điều kiện hiện đại và cả từ kinh nghiệm thất bại của chính trào lưu dân chủ, với các hình thức khác nhau tại các quốc gia khác nhau. Các tranh luận về hình thức chính quyền lý tưởng bao gồm cả các tranh luận về việc làm thế nào để giảm thiểu những sai lầm trong việc lựa chọn nhà lãnh đạo chiến lược. Khó có thể khái quát hết các quan niệm, nhưng có thể thấy cuộc tranh luận vẫn xoay quanh hai quan niệm căn bản về người lãnh đạo: lãnh đạo tinh hoa và lãnh đạo đại chúng. Nhưng hiện nay việc lựa chọn người lãnh đạo về căn bản đang là vấn đề nan giải của nền dân chủ - rủi ro trong việc lựa chọn lãnh đạo sai lầm, xuất phát từ chính sự thiển cận và tư lợi của đa số. Không có lý thuyết chung cho vấn đề mang tính lịch sử và văn hóa cụ thể như vậy. Do đó, các hệ thống khác nhau có các niềm tin và những cách thức khác nhau để giải quyết vấn đề này. Kinh nghiệm lựa chọn lãnh đạo chiến lược ở các hệ thống chính trị và nền văn hóa khác nhau đóng vai trò quan trọng trong nhận thức về cách thức lựa chọn lãnh đạo.

1. Mô hình tổ chức quyết định cách thức lựa chọn người lãnh đạo

Trong thời kỳ 1917-1924, V.I.Lênin có quan niệm đột phá về tổ chức đảng nói chung và về đảng viên cũng như các lãnh đạo quần chúng nói riêng. Về căn bản, V.I. Lênin quan niệm đảng viên phải là những người ưu tú, có khả năng lãnh đạo và đảng phải là một tổ chức chặt chẽ, có tính chuyên nghiệp.   

Các khảo sát cho thấy, V.I.Lênin đã có ít nhất 3 lần đổi mới mô hình quan trọng đáp ứng các thay đổi của môi trường (từ đó đáp ứng các nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn) dù vẫn giữ vững các nguyên tắc căn bản của Đảng cộng sản như tính tiền phong, tính khoa học, tính đồng thuận.  

Lần thứ nhất vào năm 1903, tại Đại hội lần thứ 2 của Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga (ĐCNDCXHN) tại Brussel và London, khi nguyên tắc về đảng tịch (tính tiền phong) và nguyên tắc về tổ chức (tập trung mang tính dân chủ, do V.I.Lênin đưa ra và kiên quyết bảo vệ tại Đại hội đã dẫn đến sự phân thành 2 phái Bolshevik và Menshevik. Về thực chất, V.I.Lênin muốn áp dụng mô hình tổ chức của một đảng chuyên nghiệp, tinh hoa trong đó, các đảng viên (và tổ chức đảng) lấy hoạt động chính trị làm hoạt động trung tâm của mình. Mặc dù có tên là Bolshevik, do chiếm đa số tại cuộc bỏ phiếu ở Đại hội, nhưng về số lượng, phái này chiếm thiểu số đảng viên lúc đó, hoàn toàn nhất quán với cách nhìn nhận của V.I.Lênin về mô hình tổ chức, tức chỉ bao gồm các đảng viên ưu tú, chuyên nghiệp. Theo V.I.Lênin, trong tình hình bị đàn áp và đặc biệt là sự khác biệt về nhận thức đối với tình hình cách mạng ngay trong Đảng, lúc đó, tổ chức đảng cần được xây dựng bởi những người có tinh thần thực sự cách mạng và có ý thức giác ngộ giai cấp ở mức độ cao. Cùng với việc lấy chất lượng làm trọng tâm trong phát triển đảng, tổ chức đảng cần được nâng cao về kỷ luật đảng và sự thống nhất nhận thức trong đảng thông qua nguyên tắc tập trung dân chủ.   

Lần chuyển đổi mô hình thứ 2 diễn ra vào năm 1912, từ tình hình thực tiễn, phái Bolshevik của V.I.Lênin cũng chính thức tách thành một đảng riêng, không đổi tên nhưng thêm thành tố Bolshevik (Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga - Bolshevik), hoàn tất quá trình chuyển đổi mô hình từ đảng đại chúng thành đảng tinh hoa, lãnh đạo đại chúng chuyển sang lãnh đạo tinh hoa. Sự thay đổi mô hình tổ chức như vậy là một yếu tố quan trọng trong việc đảng của V.I.Lênin giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917.
Lần chuyển đổi mô hình thứ 3 diễn ra vào năm 1918, sau khi giành chính quyền, Đảng chuyển đổi mô hình tổ chức và lấy tên là Đảng Cộng sản Nga (ĐCSN). Sau khi V.I.Lênin mất, còn có các lần chuyển đổi mô hình khác đã diễn ra ngay vào năm 1925, khi J.Stalin làm Tổng Bí thư và đảng lấy tên là Đảng Cộng sản toàn Liên Xô (Bolshevik). Từ đó đến nay đã có nhiều thay đổi quan trọng như: từ năm 1952 Đảng Cộng sản Liên Xô quay trở về dùng chức danh “Bí thư thứ nhất” cho người lãnh đạo cao nhất của đảng cho đến năm 1966 khi đổi tên thành Đảng Cộng sản Liên Xô và dùng chức danh “Tổng Bí thư” cho vị trí lãnh đạo cao nhất trong đảng dưới thời L.I.Brezhnev. Việc thay đổi tên gọi này phản ánh sự thay đổi quan niệm về mức độ tập trung quyền lực cần thiết của người lãnh đạo chiến lược.

Sự chuyển đổi mô hình tổ chức gắn với chuyển giao quyền lực của người đứng đầu (Lênin - Stalin - Khrushev - Brezhnev) cho thấy mô hình tổ chức theo nguyên tắc tập trung mang tính quyết định, cho dù sự tập trung này mang hình thức “dân chủ”, nghĩa là được bầu từ dưới lên. V.I.Lênin, cha đẻ của nguyên tắc tập trung dân chủ, vào thời gian cuối đời đã thể hiện sự quan ngại sâu sắc với tính tập trung nổi trội trong thực tế hoạt động, vì điều đó không chỉ khiến cho sự quan liêu trỗi dậy mà còn khiến cho nguy cơ độc đoán cá nhân trở thành hiện hữu. 

2. Các biến đổi của quy trình lựa chọn lãnh đạo chiến lược qua các thời kỳ

Mặc dù rất rõ ràng, chặt chẽ về mặt tổ chức cũng như cơ cấu lãnh đạo và thứ bậc quyền lực, nhưng việc lựa chọn người đứng đầu lại không được quy định rõ ràng và không được thể chế hóa chính thức trong các văn bản của đảng, mà chủ yếu dựa vào thông lệ cũng như uy tín và nhu cầu hoạt động thực tế của đảng. Về hình thức, đương nhiên các lãnh đạo đều do bầu cử từ các cấp dưới, tuy nhiên, quá trình bầu cử chính thức chỉ là giai đoạn cuối, mang tính hợp thức hóa, hơn là giai đoạn đầu của cuộc cạnh tranh như thường thấy ở các hệ thống dựa trên nguyên tắc dân chủ khác.  

2.1 Thời kỳ V.I.Lênin (1917 - 1924)

Năm 1917, V.I.Lênin cùng những người thân thiết tạo nên nhóm lãnh đạo chiến lược của Đảng Cộng sản lúc đó (thông qua Ban Chấp hành Trung ương và Ban Tư tưởng Trung ương)(1), tuy nhiên trong Điều lệ đảng lại không có quy định về vị trí cũng như cách thức lựa chọn người đứng đầu của 2 cơ quan này. Các lãnh đạo chiến lược lúc đó đều trưởng thành từ thực tiễn và do chính các kết quả thực tiễn sàng lọc. Bản thân V.I.Lênin cũng chỉ là một thành viên của Bộ Chính trị (Politbureau) và chưa bao giờ giữ chức người đứng đầu của Bộ Chính trị như Tổng Bí thư hay Chủ tịch Đảng, cho dù ông là người lãnh đạo cao nhất trong thực tế hoạt động(2). 
Việc thiếu các thể chế, quy định cũng như các quan hệ kiểm soát (vốn là đương nhiên do tính chất hoạt động bí mật thời đó) dẫn tới khả năng thao túng quá trình lựa chọn lãnh đạo, đúng như C.Mác đã nhận xét rằng bầu cử dân chủ là cách thức tốt nhất để tạo dựng một nhà độc tài, nếu không tạo dựng đủ các điều kiện cần thiết. Khả năng đó đã xảy ra sau khi V.I.Lênin mất, mặc dù trước đó ông đã có các cảnh báo và phản đối quyết liệt.  

2.2 Thời kỳ J.Stalin (1924-1953)

Việc lựa chọn lãnh đạo chiến lược, đặc biệt là Ban Chấp hành Trung ương là mối quan tâm và trăn trở lớn nhất của V.I.Lênin như trong Thư gửi Đại hội, năm 1922 (còn gọi là Di chúc). 
Trong Di chúc, V.I.Lênin quan tâm nhất đến hai vấn đề, đó là: sự quan liêu của bộ máy đảng và tính độc đoán của các lãnh đạo cấp cao. Cụ thể là J.Stalin và L.D.Trotsky. Theo V.I.Lênin, riêng mâu thuẫn giữa 2 lãnh đạo cao nhất là J.Stalin và L.D.Trotsky đã “chiếm hơn một nửa” nguy cơ phân rã đảng. Do vậy, cần tăng số lượng Ban Chấp hành Trung ương từ 27 người (1922) lên đến “50 hay 100” người để tránh việc mâu thuẫn giữa các lãnh đạo sẽ dẫn đến sự phân rã toàn thể đảng(3). Việc tăng số lượng các thành viên Ban Chấp hành Trung ương cũng cần lấy từ công nhân và nông dân đang làm việc thực sự(4), chứ không phải là những người đã thôi lao động trực tiếp và trở thành cán bộ, vì những người này cũng đã nhiễm bệnh quan liêu, tức đã tiếp nhận các truyền thống, thói quen và định kiến xấu của bộ máy(5).
Tuy nhiên, việc cấu trúc lại tổ chức đảng cũng không đạt được như V.I.Lênin kỳ vọng bởi về cơ bản quyền lực đã không được kiểm soát và hầu như nằm trong sự chi phối của J.Stalin do các lãnh đạo chiến lược ở cả trong đảng hay các cơ quan nhà nước đều là người thân cận với J.Stalin và nắm giữ các chức danh quan trọng nhất của Chính phủ (Hội đồng Dân ủy). 

Ngay cả khi đã nắm giữ vị trí cao nhất, J.Stalin cho rằng không cần thiết thể chế hóa vị trí cũng như quy trình lựa chọn lãnh đạo ở cấp cao. Trong thực tế, hai lần sửa đổi Điều lệ đảng vào năm 1925 và 1934 đều không có quy định về vị trí cao nhất trong đảng. Bản thân 3 cơ quan lãnh đạo cao nhất - Bộ Chính trị, Ủy ban kiểm tra và Ban Tổ chức - đều do Ban Chấp hành Trung ương bầu, đến năm 1927 vẫn được bổ sung hàng năm qua các kỳ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương. Từ năm 1933 trở đi, Bộ Chính trị hầu như chỉ là nơi thảo luận chứ không còn là nơi đưa ra quyết định tập thể. Tư liệu lịch sử cho thấy, nếu vào năm 1927 và 1928, Bộ Chính trị họp hàng tuần (53 và 51 cuộc họp tương ứng) thì đến năm 1933 chỉ còn họp 16 cuộc và giảm dần cho đến năm 1939 và 1940 chỉ còn họp 2 lần một năm(6).

Ban Tổ chức (Orgbureau), trên danh nghĩa là ngang quyền với Bộ Chính trị vì đều do Ban Chấp hành Trung ương bầu, nhưng trong thực tế chỉ là nơi thừa hành các chỉ thị của Bộ Chính trị và Tổng Bí thư. Bắt đầu từ năm 1929, J.Stalin hầu như không tham gia các cuộc họp của Ban Bí thư và Ban Tổ chức Trung ương. Trong tổng số khoảng 350 cuộc họp từ năm 1929 đến 1940, J.Stalin chỉ tham gia 2 cuộc, so với riêng năm 1928, J.Stalin tham gia 13 cuộc. Như vậy, mặc dù nắm giữ quyền lực thực tế, nhưng J.Stalin thường ủy nhiệm cho cấp dưới thực hiện. Trong các thất bại chính sách lớn như tập thể hóa và nạn đói thời kỳ 1930 - 1935, tất cả lỗi đều bị quy cho các lãnh đạo cấp dưới. 

Tổ chức đảng tại các nước cộng hòa và khu tự trị từ thời kỳ J.Stalin bắt đầu thiết lập vị trí “Bí thư thứ 2”. Trong thực tế, Bí thư thứ 2 luôn là người Nga và do Ban Chấp hành Trung ương - mà thực chất là do J.Stalin lựa chọn và bổ nhiệm, do vậy có quyền lực thực sự hơn Bí thư thứ nhất (là người địa phương). 

Như vậy, có thể thấy dưới thời J.Stalin, việc lựa chọn cán bộ chiến lược xoay quanh 2 điểm mấu chốt: 1) Thiết lập quyền lực cao nhất của vị trí Tổng Bí thư, đứng đầu toàn bộ hệ thống chính trị với sự tuân thủ nghiêm ngặt của cấp dưới với cấp trên; 2) Sự trung thành cá nhân với chính J.Stalin (tức sự “sùng bái cá nhân” - như trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Liên Xô đã đánh giá). 

2.3 Thời kỳ N.S.Khrushev (1953 - 1964)

Cách thức lựa chọn lãnh đạo cấp cao trong thời J.Stalin đã dẫn đến sự tập trung quyền lực cá nhân, làm suy giảm tính dân chủ trong hoạt động của Đảng. Mặc dù có những đánh giá khác nhau về sự cần thiết hoặc có ích của sự tập trung quyền lực, đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ II, nhưng cho đến đầu những năm 1950, tình trạng tập trung quyền lực như vậy không còn được chấp nhận và với sự ra đi của J.Stalin, Đảng Cộng sản Liên Xô bắt đầu chuyển sang thời kỳ mới, có thể nói, thời kỳ 10 năm của N.S.Khrushev là giai đoạn quá độ. Về căn bản, đây là thời kỳ xoay quanh việc giải trừ tệ sùng bái cá nhân.

Ngay sau khi J.Stalin mất, do cách thức lựa chọn lãnh đạo dựa trên sự trung thành cá nhân, không có bất cứ ai đủ uy tín và sự ủng hộ như J.Stalin để có thể đảm đương vị trí và quyền lực như cũ, do vậy, người lãnh đạo mới phải tự khẳng định mình qua cạnh tranh. Tại Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô vào năm 1956, N.S.Khrushev nổi lên và trở thành nhân vật lãnh đạo số 1.  

Trong thời kỳ này, có 2 thay đổi quan trọng về tổ chức và vị trí lãnh đạo: 1) Không có Tổng Bí thư mà chỉ có Bí thư thứ nhất (N.S.Khrushev); 2) Không có Bộ Chính trị mà thay bằng Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương và mở rộng từ 9 người lên thành 25 người(7).
Các thay đổi này cho thấy sự chuyển dịch từ lãnh đạo cá nhân trở về với nguyên tắc lãnh đạo tập thể hơn. Về cơ bản, sự lựa chọn lãnh đạo chiến lược được quyết định bởi Đoàn Chủ tịch và Ban Chấp hành Trung ương. Ngay cả trong thời kỳ từ 1958 - 1964, khi N.S.Khrushev có được ảnh hưởng lớn nhất, ông cũng chưa bao giờ vượt quá được tập thể Đoàn Chủ tịch để loại bỏ nhanh chóng và hoàn toàn các đối thủ chính trị. Thậm chí chương trình cải cách của ông bị chống đối mạnh mẽ bởi các nhóm trong Ban Chấp hành Trung ương dẫn đầu bởi M.A.Suslov(8).

Tháng 10/1964, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã loại bỏ N.S.Khrushev khỏi vị trí Bí thư thứ nhất và ra khỏi Đoàn Chủ tịch cũng như thôi chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Việc chuyển giao quyền lực từ N.S.Khrushev sang L.I.Brezhnev diễn ra khá bình lặng, khẳng định quyền lựa chọn của Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương (tức Bộ Chính trị) cao hơn bất cứ cá nhân nào. 

2.4 Thời kỳ L.I.Brezhnev, Y.A.Andropov, K.Trernhenko (1964 - 1985)

Mặc dù thay N.S.Khrushev ở chức Bí thư thứ nhất từ năm 1964 nhưng phải đến năm 1966, sau khi sửa đổi Điều lệ đảng và sau các bước đi chính trị khôn khéo, L.I.Brezhnev mới quy tụ được quyền lực và chính thức trở thành Tổng Bí thư. Cũng từ thời điểm này, Tổng Bí thư được chính thức quy định là chức vụ cao nhất trong Đảng, đồng thời Điều lệ cũng lần đầu tiên quy định cách thức lựa chọn Tổng Bí thư.  
Đây là thời kỳ lãnh đạo tập thể được quy vào Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương chỉ mang tính phê chuẩn hình thức vì nếu Bộ Chính trị chưa nhất trí, vấn đề sẽ chưa được mang ra bàn ở các Hội nghị Trung ương. 

Tuy tính chất lãnh đạo tập thể, dù chỉ trong nhóm nhỏ được khôi phục nhưng cũng chỉ trong vòng 4 năm, từ 1967 đến 1971, L.I.Brezhnev đã củng cố được ảnh hưởng cá nhân rất mạnh tại Đại hội lần thứ 24 Đảng Cộng sản Liên Xô. Tại Đại hội Đảng lần thứ 25, năm 1976, trong số 16 ủy viên Bộ Chính trị đã có 10 ủy viên là do L.I.Brezhnev bổ nhiệm. Năm 1977, L.I.Brezhnev đồng thời giữ chức Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô-viết tối cao  Liên Xô, càng củng cố sự tập trung quyền lực. Tuy nhiên, trong thời kỳ này, cách thức lựa chọn lãnh đạo chiến lược đã mang tính dân chủ rộng rãi hơn và do vậy đội ngũ lãnh đạo cũng ổn định hơn so với các thời kỳ trước đó.  Bắt đầu từ năm 1971, Đại hội Đảng được tiến hành định kỳ 5 năm 1 lần. Đội ngũ các ủy viên Trung ương Đảng được mở rộng và ổn định. Năm 1976, trong số 241 ủy viên chính thức và 155 dự khuyết có tới 90% được tái cử(9). Về căn bản, sự ổn định trong hàng ngũ lãnh đạo của Đảng đã được tái lập với vai trò trung tâm của L.I.Brezhnev. 

Vấn đề về lựa chọn người lãnh đạo thay L.I.Brezhnev bắt đầu được nhen nhóm từ năm 1975, khi L.I.Brezhnev bị đột qụy. Trong vài tháng sau đó, M.Suslov và M.Kirilenko chia sẻ vai trò lãnh đạo. Tuy nhiên, vào năm 1978, khi sức khỏe của L.I.Brezhnev một lần nữa gặp vấn đề nghiêm trọng, ông đã đặt niềm tin vào K.Chernenko và chỉ trong vòng hơn một năm đã đề bạt K.Chernenko vào Ban Bí thư rồi trở thành Ủy viên chính thức Bộ Chính trị vào năm 1979. Tuy nhiên, trong thời gian từ năm 1979 đến 1982, một nhân tố nổi lên là Y.A.Andropov, Chủ tịch Ủy ban An ninh Quốc gia (KGB) đặc biệt là từ sau khi M.Suslov mất (ngày 25/01/1982). Vào năm 1982, Y.A.Andropov đã củng cố vững chắc vị trí của mình, bằng việc trở lại tham gia vào Ban Bí thư và trở thành Tổng Bí thư thay cho L.I.Brezhnev (tháng 11/1982), với sự ủng hộ mạnh mẽ của 2 ủy viên Bộ Chính trị là Nguyên soái D.Ustinov (Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) và A.A.Gromưko (Bộ trưởng Bộ ngoại giao). 

Tuy nhanh chóng củng cố được quyền lực, thậm chí thay gần 20% số bí thư khu ủy chỉ trong vòng 3 tháng (từ tháng 11/1983 đến tháng 01/1984), Y.A.Andropov vẫn không thể ngăn cản được việc K.Chernenko trở thành Tổng Bí thư sau khi Y.A.Andropov mất vào ngày 09/02/1984(10).

K.Chernenko được lựa chọn làm Tổng Bí thư chỉ 4 ngày sau khi Y.A.Andropov mất. Điều này thể hiện đã có những bất đồng trong Bộ Chính trị về chọn lựa lãnh đạo tối cao, do đó ý kiến của Ban Chấp hành Trung ương trở thành yếu tố quyết định. Tuy nhiên, với việc K.Chernenko (lúc đó đã 72 tuổi) nắm giữ vị trí Tổng Bí thư, M.X.Gorbachev cũng đã nắm giữ được vị trí Bí thư thứ 2 và trở thành người kế tục rõ ràng cho K.Chernenko. Trong thực tế, K.Chernenko nắm giữ vị trí này chỉ hơn 1 năm và mất vào ngày 10/3/1985.
Như vậy, từ năm 1964 đến năm 1985, chỉ có giai đoạn 1964-1982, khi L.I.Brezhnev nắm giữ chức vụ Tổng Bí thư là giai đoạn lãnh đạo ổn định. Từ 1982 - 1985 là giai đoạn mang tính chuyển tiếp, khi các quan điểm khác nhau về nhu cầu và cách thức cải cách kinh tế - chính trị vẫn chưa ngã ngũ. Mặc dù thời kỳ này, quy trình lựa chọn cũng như vị trí lãnh đạo đã được quy chế hóa rõ ràng hơn, cách lựa chọn người lãnh đạo chính trị, đặc biệt ở cấp cao nhất, vẫn thiếu đi một khuôn khổ ổn định thực sự, thậm chí phụ thuộc quá nhiều vào ý kiến của thiểu số mà thiếu sự tham khảo và kiểm nghiệm của đa số, đặc biệt của các lãnh đạo cấp trung, vốn gần gũi và nắm vững các vấn đề nóng hổi của thực tiễn, khiến cho chỉ trong vòng 3 năm có tới 3 Tổng Bí thư. Tình hình như vậy phản ánh sự bất ổn định của cả hệ thống, cho tới lúc đó đã có tới trên 60 năm tồn tại.  

2.5 Thời kỳ M.X.Gorbachev (1985 - 1991)

Bản thân M.X.Gorbachev thăng tiến chủ yếu bằng năng lực cá nhân, ông là người có học vấn chuyên môn cao (tốt nghiệp xuất sắc ngành Luật ở MGU năm 1955; cao nhất trong Ban Bí thư và Bộ Chính trị thời kỳ đó), vừa có trải nghiệm hoạt động thực tiễn ở cơ sở khá dài. Sau khi tốt nghiệp đại học ông trở về tỉnh Stavropol công tác và được đề bạt rất nhanh do hiệu quả hoạt động. Năm 1966, khi mới 35 tuổi đã trở thành Bí thư Tỉnh ủy. M.X.Gorbachev được lựa chọn vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1971, ở độ tuổi 40. Chỉ  7 năm sau (1978), ông đã được bầu vào Ban Bí thư, chuyển về Matxcơva và đến năm 1980 đã là Ủy viên Bộ Chính trị khi mới ở độ tuổi 49, trẻ hơn khoảng 15-25 tuổi so với đại đa số các thành viên khác. 

Do có tư tưởng cải cách, M.X.Gorbachev là nhân vật được Y.V.Andropov ủng hộ, tin tưởng và thăng tiến rất nhanh trong thời kỳ 1982 -1985. Cùng với Y.Ligachev trong Bộ Chính trị, đây là 2 người được Y.V.Andropov lựa chọn để kế tục từ năm 1984, khi biết sức khỏe của mình không còn tốt. Thực tế là khi Y.V.Andropov bị ốm, M.X.Gorbachev chính là người thay ông chủ trì các cuộc họp Bộ Chính trị. Ngay cả khi bị tạm thời thất thế, thời kỳ K.Chernenko làm Tổng Bí thư, M.X.Gorbachev vẫn giữ được vị trí Bí thư thứ 2. 
Ngày 11/3/1985, K.Chernenko mất sau 13 tháng làm Tổng Bí thư. Chỉ sau vài giờ, M.X.Gorbachev đã chính thức trở thành Tổng Bí thư. Từ khi nhậm chức, chỉ trong vòng 4 tháng, ông đã bổ sung và thay thế một loạt các ủy viên Bộ Chính trị, củng cố quyền lực của mình. Nổi bật là 2 ủy viên Bộ Chính trị mới là Y.Ligachev, phụ trách công tác tổ chức cán bộ và N.Ryzhkov, phụ trách cải tổ kinh tế. Trong một năm đầu, M.X.Gorbachev đưa thêm 5 người mới vào Bộ Chính trị, 7 người mới vào Ban Bí thư. Tại Đại hội lần thứ 27, năm 1986, trong số 307 ủy viên Trung ương, có tới 125 là ủy viên mới. Tiếp đó, 38/100 bộ trưởng cũng bị mất chức. Tháng 8 năm 1987, có tới 3/4 bí thư tỉnh, vùng là những người mới được bầu sau thời L.I.Brezhnev. Vào năm 1989, trong số 11 ủy viên Bộ Chính trị thì có đến 9 người được bầu vào từ sau 1985, cho dù tất cả họ đều hơn tuổi M.X.Gorbachev.

Quan điểm của M.X.Gorbachev là phải cải cách chính trị trước cải cách kinh tế, vì chính bộ máy chính trị cùng với các cán bộ cũ của nó là cản trở hàng đầu của cải cách kinh tế. Do vậy, trước khi tiến hành cải cách kinh tế (perestroika), ông đã tiến hành các thay đổi chính trị, mà trước hết là đẩy mạnh tính minh bạch (glasnost), để nhìn nhận thẳng thắn các vấn đề, các khiếm khuyết của hệ thống. Tiếp đó, M.X.Gorbachev cũng thúc đẩy dân chủ hóa bằng cải tổ các thể chế và quá trình trong hệ thống chính trị.

Vào tháng 02/1987, ông cho phép thử nghiệm bầu cử cạnh tranh ở một số Xô viết địa phương. Cũng trong năm này, có khoảng 5% đại biểu các Xô viết địa phương được bầu chọn tự do(11). Không đợi đến Đại hội lần thứ 28 (dự kiến năm 1991), ngay trong năm 1988, Đảng Cộng sản Liên Xô có Hội nghị toàn quốc lần thứ 19 để đưa ra các quyết định cải cách chính trị quan trọng, bao gồm cả cải cách thể chế, theo đó, một cơ quan lập pháp mới là Đại hội đại biểu nhân dân, tức Quốc hội Liên Xô được thành lập. Các đại biểu sẽ được bầu cử qua cạnh tranh tự do ở địa phương. Quốc hội sẽ bầu ra Xô viết tối cao và Chủ tịch Xô viết tối cao và được trao các quyền lực thực sự. Cuộc bầu cử Quốc hội tháng 3/1989 mở ra một cách thức hoàn toàn mới trong lựa chọn lãnh đạo tại Liên Xô. Cũng trong cuộc bầu cử cạnh tranh đầu tiên này, nhiều cán bộ cao cấp của Đảng Cộng sản Liên Xô đã thất cử, như ở Matxcơva và thành phố Leningrad. Trong khi đó, B.Elsin, người vì thể hiện sự phê phán quyết liệt đối với Đảng về sự cải tổ quá chậm và không triệt để mà bị mất chức Bí thư thành ủy Matxcơva và ra khỏi Bộ Chính trị từ năm 1987, lại được số phiếu áp đảo hơn 90% tại đây.  

Đại hội lần thứ 28 của Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1990 đã sửa đổi Điều lệ, trong đó quy định rõ hơn quy trình, thủ tục lựa chọn cán bộ lãnh đạo (đặc biệt là Bộ Chính trị). Tại Đại hội này, lần đầu tiên, Bộ Chính trị không còn phân thành 2 loại ủy viên chính thức và dự khuyết. 

Sự cải cách về lựa chọn lãnh đạo cũng như cải cách cơ cấu quyền lực cả trong Đảng cũng như sự chuyển dịch quyền lực từ Đảng sang các cơ quan nhà nước, mà thiếu sự chuẩn bị điều kiện cần thiết cùng các biện pháp giảm thiểu rủi ro, là khởi đầu quan trọng cho quá trình xói mòn khả năng kiểm soát trật tự của hệ thống và cùng với sự cộng hưởng của các nhân tố ngẫu nhiên khác đã dẫn tới tan rã của Liên Xô cũng như của Đảng Cộng sản Liên Xô vào năm 1991.

Sự sụp đổ trong thời gian quá ngắn của một cường quốc đã tồn tại hơn 70 năm là chủ đề của nhiều nghiên cứu và được lý giải từ nhiều góc độ, từ dài hạn đến ngắn hạn, từ các nguyên nhân nền tảng đến các nguyên nhân trực tiếp.v.v. Bài viết đặt ra vấn đề là cách thức lựa chọn lãnh đạo chiến lược đã ảnh hưởng thế nào đến sự sụp đổ đó? 
Có thể thấy M.X.Gorbachev không có ý đồ làm sụp đổ Liên Xô ngay từ đầu. Những gì xảy ra là ngoài chủ ý mà ông đã không dự tính hết, cũng như đã không thể kiểm soát. Điều này là dễ hiểu, vì trong một thời gian dài, ít ai nghi ngờ về khả năng kiểm soát của Đảng với mức độ tập trung quyền lực cao như vậy. Do vậy, cũng như trong lịch sử đã nhiều lần chứng kiến, người nắm quyền lực tuyệt đối càng dễ ảo tưởng về khả năng kiểm soát tình hình xã hội, vốn không phải là cỗ máy vô tri mà luôn có các sáng tạo, thích nghi và phát triển cùng với sự biến đổi của môi trường, hoàn cảnh. 

Việc cải cách chính trị chỉ có mục đích là khai thông các bế tắc cho cải cách kinh tế, tuy nhiên, các diễn biến thực tế đã dẫn tới các hệ quả phi kinh tế, mà trước hết là đặt ra các thách thức về hiệu quả lãnh đạo chính trị cũng như uy tín chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô. Bản thân uy tín đó lại chính là điều mà cải cách kinh tế hy vọng sẽ củng cố, nếu được khai thông như dự kiến. Vòng tương tác, phản hồi bất tận kiểu “quả trứng - con gà” như vậy, về lý thuyết, có thể sẽ theo hai hướng: vòng xoáy tiến bộ hoặc vòng xoáy thoái bộ. Trong thực tế, khả năng thứ hai đã xảy ra - tức sự mất uy tín lại dẫn đến sự bế tắc trong cải cách kinh tế, và đến lượt nó, lại tiếp tục làm mất uy tín trầm trọng hơn và dẫn tới sụp đổ hệ thống - là điều ngược với mục đích ban đầu. 

Khi nhìn nhận các vòng xoáy như vậy, nhân tố lãnh đạo, đặc biệt là hai yếu tố cốt lõi trong lãnh đạo - tầm nhìn dài hạn và hình dung về các tương tác có tính phức hợp (complex), chính là nhân tố có thể tạo ra các ảnh hưởng đảo chiều. 

3. Một số nhận định và đánh giá

Qua phân tích cho thấy, cách thức lựa chọn lãnh đạo chiến lược chắc chắn đã có các khiếm khuyết nghiêm trọng, cho dù đó cũng chỉ là một trong các nhân tố quan trọng dẫn đến sự bất ổn và cuối cùng là sự sụp đổ của chính thể Liên Xô thời đó. Các khiếm khuyết này bắt nguồn từ các đặc điểm chính như sau:  

Một là, quá trình lựa chọn mang tính nội bộ, thậm chí cá nhân. 
Bản thân sự lựa chọn nội bộ có ưu điểm là có thể chọn đúng hơn được những người giỏi, ưu tú, tránh được tính chất mỵ dân của các cuộc bỏ phiếu rộng rãi khiến các nhân vật dân túy nổi lên. Tuy nhiên, tính ưu tú của quá trình lựa chọn đó rõ ràng cần có sự kiểm nghiệm của người dân và các tổ chức xã hội rộng rãi hơn. Sự thiếu kiểm nghiệm xã hội mới chính là tử huyệt của quá trình lựa chọn cán bộ chứ không phải tính nội bộ, hay thậm chí tính cá nhân trong lựa chọn cán bộ chiến lược. Việc chuyển ngay và quá nhanh sang bầu cử cạnh tranh, trong khi thiếu sự chuẩn bị cả về thông tin, thủ tục loại bỏ các ứng viên… đương nhiên sẽ đưa đến các kết quả tiêu cực hơn là tích cực.  

Hai là, thiếu cơ chế quy trách nhiệm. 
Ngay cả khi lựa chọn đúng thì cơ chế quy trách nhiệm như một yếu tố không thể thiếu trong việc kiểm nghiệm kiềm chế sự tha hóa cũng như các sai lầm của bản thân người lãnh đạo suốt quá trình nắm giữ quyền lực. Việc thiếu cơ chế quy trách nhiệm có một hệ quả lớn là ngay cả khi có cơ chế bãi miễn chức vụ, một tổ chức cũng rất khó thực hiện vì không thể quy được trách nhiệm đối với người lãnh đạo. Sai lầm, chệch hướng luôn thuộc về ai đó, hay do các nguyên nhân “khách quan, bất khả kháng, ngoài ý định”.   

Ba là, quá nhấn mạnh sự tập trung và ổn định, mà không nhấn mạnh khả năng ứng biến và thay đổi.  

Điều này thể hiện trong việc suốt thời gian dài, lãnh đạo không bị ràng buộc về nhiệm kỳ. Sự thể chế hóa ràng buộc bằng nhiệm kỳ, ngoài vai trò kiểm soát quyền lực, còn có một tác động quan trọng là đảm bảo sự ổn định động, sự cân bằng qua các thế hệ, từ đó, khả năng ứng biến, thích nghi của lãnh đạo chiến lược trở thành một yếu tố quan trọng, được đánh giá cao hơn là khả năng “nắm giữ quyền lực và một trật tự cứng nhắc”. 

Bốn là, phương thức lựa chọn lãnh đạo chưa được thể chế hóa trên nền tảng khoa học, hợp lý, khách quan và có tính dài hạn. 

Đương nhiên, các vấn đề chính trị luôn thuộc lĩnh vực khoa học mềm, tức luôn có yếu tố nhận thức chủ quan, do vậy, bản thân "sự hợp lý khách quan" cũng dễ dàng bị thao túng. Nói cách khác, đặc điểm thứ 4 này, về hình thức là nguyên nhân của 3 khiếm khuyết trên, lại có thể chính là hệ quả của các khiếm khuyết đó vì bản thân quá trình thể chế hóa sẽ bắt buộc phải dựa trên sự hợp lý. Chính sự hợp lý hóa luôn là khởi nguồn của sự thay đổi, tức là “sự bất ổn” từ quan điểm của những người đang hưởng lợi từ trật tự hiện hành.  Cùng với "tính cá nhân" và "khả năng quy trách nhiệm thấp", sự thay đổi phương thức lựa chọn lãnh đạo có thể không theo hướng khoa học và dài hạn, mà dễ ngả theo hướng giải quyết tình thế, bị chi phối bởi các tính toán ngắn hạn, thậm chí lợi ích cục bộ cá nhân mà rất khó bị phản bác, cả về mặt khoa học khách quan cũng như về mặt ý kiến chủ quan.
 

TS. Ngô Huy Đức - Viện trưởng Viện Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
 

 

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Singapore nâng tuổi nghỉ hưu lên 65 tuổi

Ngày đăng 21/08/2019
Singapore sẽ dần nâng độ tuổi nghỉ hưu lên mức 65 tuổi vào năm 2030. Đây là thông tin được Thủ tướng Lý Hiển Long đưa ra trong bài phát biểu ngày 18/8/2019, nhân dịp Quốc khánh nước này.

Kinh nghiệm xây dựng Chính phủ số tại Estonia

Ngày đăng 20/08/2019
Với tuyên ngôn của Thủ tướng "công nghệ thông tin là tương lai của đất nước" từ những năm 90 của thế kỷ XX, đến nay, Estonia đã có một Chính phủ số hàng đầu thế giới.

Củng cố bộ máy tinh gọn, vững mạnh và phù hợp thực tiễn ở Lào

Ngày đăng 15/08/2019
Sau khi đất nước được giải phóng hoàn toàn, Nhà nước CHDCND Lào được thành lập vào ngày 02 tháng 12 năm 1975, lúc đó đất nước chưa phát triển, nền kinh tế - xã hội phát triển với mức độ thấp, nhưng Đảng Nhân dân Cách mạng Lào với tinh thần kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, lãnh đạo xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của chế độ dân chủ nhân dân tại Lào trong tình hình mới [1] ​

Ngày đăng 13/08/2019
Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong chế độ dân chủ nhân dân trong tình hình mới là vấn đề quan trọng và có tính cấp thiết, bởi vì việc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là nội dung cơ bản nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước, phát huy vai trò, tính chủ động của Mặt trận Lào xây dựng đất nước, các tổ chức chính trị - xã hội nhằm hoàn thành mục tiêu xây dựng và phát huy chế độ dân chủ nhân dân, lãnh đạo đất nước thoát khỏi tình trạng nước kém phát triển, lạc hậu và từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm cho việc thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngày càng đầy đủ, đảm bảo quyền lực thật sự thuộc về nhân dân.

Singapore: Người dân có thể thanh toán điện tử mọi dịch vụ công

Ngày đăng 12/08/2019
Việc sử dụng ứng dụng PayNow trong lĩnh vực công cũng sẽ giúp người dân Singapore thực hiện được 90 đến 95% giao dịch của mình với Chính phủ mà không phải ra khỏi nhà.

Tiêu điểm

Hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu chiến lược cán bộ của Đảng

Tiếp tục quán triệt, hoàn thiện Chiến lược cán bộ và nhiệm vụ đề ra tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: “Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ” và “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và thực hiện thành công Chiến lược cán bộ của Đảng, nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đặt ra đối với Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ trong thời gian tới là cần phải thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW thành các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức (CBCC).