Hà Nội, Ngày 24/06/2019

Thực trạng và giải pháp phân định ranh giới quản lý hành chính biển, đảo ở Việt Nam hiện nay

Ngày đăng: 07/01/2019   03:20
Mặc định Cỡ chữ
Hiện nay, địa giới của các đơn vị hành chính ven biển nước ta mới chỉ được xác định đến đường bờ nước biển, chưa được xác định đến đường biên giới quốc gia trên biển. Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh khu vực ven biển và trên biển thời gian qua đã phát sinh nhiều bất cập, do đó cần có những giải pháp phân định rõ ranh giới quản lý hành chính biển, đảo giữa các địa phương có biển.
 

Phân chia lãnh thổ quốc gia thành các đơn vị hành chính lãnh thổ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý nhà nước là vấn đề hiến định ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: 1) Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 2) Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương (Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã cụ thể hóa “đơn vị hành chính tương đương” là “thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương”); huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường. Tuy nhiên, đến nay địa giới của các đơn vị hành chính ven biển nước ta mới chỉ được xác định đến đường bờ nước biển, chưa được xác định đến đường biên giới quốc gia trên biển. Do đó, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh khu vực ven biển và trên biển thời gian qua đã phát sinh nhiều bất cập thậm chí trở thành điểm nóng ở một số địa phương ven biển. Để sớm khắc phục tình trạng này, Quyết định số 513/QĐ-TTg ngày 02/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Dự án “Hoàn thiện, hiện đại hóa hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính và xây dựng cơ sở dữ liệu về địa giới hành chính” đã giao Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan và các địa phương có biển phân định rõ ranh giới quản lý hành chính biển, đảo giữa các địa phương có biển. 

1. Khái quát về biển, đảo ở Việt Nam

Việt Nam có đường bờ biển dài 3.620km, diện tích vùng biển khoảng một triệu km vuông, với trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ. Các đảo được phân bố thành một vòng cung rộng lớn chạy suốt vùng biển và bờ biển. Vùng biển Đông Bắc có trên 2.200 hòn đảo, vùng biển Bắc Trung Bộ có trên 40 hòn đảo, còn lại là vùng biển Trung Bộ, vùng biển Tây Nam Bộ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Hệ thống đảo tiền tiêu của đất liền: đây là những vị trí quan trọng của đất nước để bố trí các mạng lưới bảo vệ, kiểm soát vùng biển, vùng trời của Tổ quốc, kiểm tra các hoạt động tàu thuyền ra vào, đi lại trên vùng biển của nước ta, là những căn cứ tiền tiêu bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước. Hệ thống đảo này có vị trí vô cùng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có vai trò to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng,… Những đảo lớn trong hệ thống đảo này bao gồm cả huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng, huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa, xã đảo Trần thuộc tỉnh Quảng Ninh, huyện đảo Bạch Long Vĩ thuộc thành phố Hải Phòng, huyện đảo Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng Trị, huyện đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi, huyện đảo Phú Quý thuộc tỉnh Bình Thuận, huyện đảo Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, huyện đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang.  

Các đảo lớn có diện tích và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội đã hình thành khu vực dân cư làm ăn, sinh sống khá lâu đời, có cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội loại khá, đời sống dân cư tương đối ổn định và phát triển. Các đảo này có đủ điều kiện để hình thành và phát triển một số ngành nghề, trung tâm kinh tế, thương mại, du lịch, dịch vụ. Đồng thời, là nơi tạm trú, giao dịch, làm ăn theo mùa vụ của ngư dân các nơi khác khi thay đổi ngư trường đánh bắt hải sản. Ngoài ra, một số đảo có những nguồn lợi đặc sản và những ngành nghề truyền thống mà các nơi khác không có hoặc không bằng. Nổi bật trong nhóm này có quần đảo Cô Tô (tỉnh Quảng Ninh), có hơn 5.000 người dân sinh sống; tên hành chính hiện nay là huyện Cô Tô thuộc tỉnh Quảng Ninh. Quần đảo Cô Tô có khoảng hơn 50 đảo lớn nhỏ. Quần thể đảo Cát Bà (thành phố Hải Phòng) gồm có 367 đảo, trong đó đảo Cát Bà nằm ở phía nam Vịnh Hạ Long; tên hành chính hiện nay là thị trấn Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Thị trấn Cát Bà đã phát triển thành một đô thị du lịch sầm uất. 
Côn Đảo là một quần đảo ở ngoài khơi bờ biển Nam Bộ, tên hành chính hiện nay là huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong nhiều thập niên của thế kỷ trước, Côn Đảo là địa danh được biết đến là nơi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa sử dụng vào mục đích chuyên giam giữ và tra tấn tù nhân chính trị. Sau khi hòa bình lập lại, du khách thường tìm đến Côn Đảo để tìm hiểu những giá trị lịch sử về một thời hào hùng của các anh hùng, chiến sĩ cách mạng và những tội ác man rợ của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa. Nghĩa trang Hàng Dương là một trong những điểm đến thu hút nhiều khách du lịch tâm linh nhất tại Côn Đảo. 

Phú Quốc là một quần đảo thuộc vùng biển Tây Nam Bộ, tên hành chính hiện nay là huyện Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang. Phú Quốc đã được mệnh danh là Đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất của Việt Nam, cũng là lớn nhất trong quần thể 22 đảo nằm trong Vịnh Thái Lan. Do có vị trí địa kinh tế, địa chính trị đặc biệt nên Phú Quốc đã được lựa chọn để nghiên cứu, đầu tư phát triển thành đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt trong tương lai gần. 

Cù Lao Chàm là một cụm đảo thuộc xã đảo Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, là một di tích văn hóa lịch sử gắn với sự hình thành và phát triển của đô thị thương cảng Hội An.v.v.

Các đảo gần với đất liền là những địa bàn hết sức thuận lợi cho nghề cá ven biển của ngư dân, nơi trú ngụ và tránh gió bão của các tàu thuyền, nơi bảo vệ và phát triển các nguồn lợi thủy sản, bảo vệ trật tự, an toàn, an ninh trên các vùng biển và bờ biển của nước ta. Một số đảo ven bờ cũng có những nguồn lợi đặc sản như yến sào, đồi mồi, …

Theo vị trí và điều kiện tự nhiên, các đảo ven bờ của nước ta đã hình thành nên một số huyện đảo, xã đảo như: huyện Cô Tô (tỉnh Quảng Ninh); các huyện Cát Hải, Bạch Long Vĩ (Hải Phòng); huyện Cồn Cỏ (Quảng Trị); huyện Hoàng Sa (Đà Nẵng); huyện Lý Sơn (Quảng Ngãi); huyện Trường Sa (Khánh Hòa); huyện Phú Quý (Bình Thuận); huyện Kiên Hải, Phú Quốc (Kiên Giang). Tuy nhiên, địa giới hành chính của các huyện đảo, xã đảo cũng chỉ mới xác định được đến bờ mép nước bao quanh các đảo, chưa xác định được ranh giới mặt biển giữa các huyện đảo, xã đảo. Như vậy, về cơ bản việc phân định ranh giới lãnh thổ hành chính vùng biển của các huyện đảo ở nước ta đang tạm thời để ngỏ, việc quản lý hành chính đối với khu vực này còn nhiều bất cập, mang tính tự phát, gây nên nhiều tranh chấp về đất đai, về tài nguyên khoáng sản. Nhiều khu vực xây dựng các công trình lấn biển, xây dựng vùng nuôi trồng thủy sản, trồng rừng ngập mặn chưa được xác định ranh giới hành chính rõ ràng; một số khu vực bãi lớn tiếp giáp với địa phận hành chính cấp xã nhưng chưa thành lập được đơn vị hành chính cấp xã để quản lý mà lại do huyện quản lý trực tiếp, trong khi đó nhân dân do các xã lân cận đến khai thác tự do không có sự quản lý cụ thể, như: khu vực Bãi Nhà Mạc và khu vực Bắc đảo Cát Bà, giáp ranh giữa tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng; khu vực Hòn Chà giáp ranh giữa tỉnh Thừa Thiên - Huế và thành phố Đà Nẵng; khu vực Cù lao Gò Gia giáp ranh giữa thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai.v.v.

2. Mục tiêu, yêu cầu và nguyên tắc xác định ranh giới hành chính trên biển giữa các huyện đảo

2.1 Mục tiêu

Xác định rõ ranh giới quản lý hành chính biển, đảo giữa các đơn vị hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); giữa các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp huyện); giữa các xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) ven biển và trên biển.

2.2 Yêu cầu

Xác định cụ thể đường ranh giới trên biển giữa các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã ven biển và trên biển ở thực địa và trên bản đồ Hệ tọa độ quốc gia VN - 2000 làm tài liệu pháp lý đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về địa giới đơn vị hành chính. 

2.3 Nguyên tắc tổ chức thực hiện

a) Nguyên tắc xác định đường ranh giới hành chính trên biển giữa các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã có biển

- Việc xác định đường ranh giới hành chính trên biển giữa các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã có biển phải xác định được ít nhất 05 điểm đặc trưng sau đây:
+ Điểm địa giới cuối cùng trên đất liền là điểm giao giữa đường địa giới hành chính đã thể hiện trên bản đồ địa giới hành chính lập theo Chỉ thị số 364-CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc giải quyết những tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tỉnh, huyện, xã với đường bờ biển hiện tại.
+ Điểm triều kiệt là điểm giao cắt giữa đường ranh giới hành chính trên biển với đường triều kiệt tại thời điểm thực hiện việc xác định đường ranh giới hành chính trên biển giữa các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã có biển. 
+ Điểm ba hải lý là điểm giao cắt giữa đường giới hạn ngoài của vùng biển ba hải lý với đường ranh giới hành chính trên biển tính từ điểm triều kiệt.
+ Điểm trên đường cơ sở là điểm giao cắt giữa đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam(1) với đường ranh giới hành chính trên biển.
+ Điểm trên đường biên giới quốc gia trên biển là điểm giao cắt giữa đường biên giới quốc gia trên biển với đường ranh giới hành chính trên biển. 

- Hướng đi của đường ranh giới hành chính trên biển phụ thuộc hướng đi của đường bờ biển và đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam thuộc mỗi địa phương như sau: 
+ Đối với các tỉnh từ Quảng Ninh đến Bình Thuận, đường ranh giới hành chính trên biển khởi đầu từ điểm địa giới cuối cùng trên đất liền, đi theo phương vuông góc với đường cơ sở tại điểm trên đường cơ sở rồi kéo dài ra phía biển 12 hải lý đến điểm trên đường biên giới quốc gia trên biển. 
+ Đối với các tỉnh từ Bà Rịa - Vũng Tàu đến Cà Mau, đường ranh giới hành chính trên biển được xác định phụ thuộc theo chiều dài đường bờ biển của từng địa phương, cụ thể là: Di = D : S x Si  (trong đó: Di là chiều dài dọc theo đường cơ sở lãnh hải của từng địa phương; D là tổng chiều dài dọc theo đường cơ sở lãnh hải của tất cả các địa phương cần phân định ranh giới hành chính; Si là chiều dài dọc theo đường bờ biển của từng địa phương; S là tổng chiều dài dọc theo đường bờ biển của tất cả các địa phương cần phân định ranh giới hành chính).
+ Đường ranh giới hành chính trên biển giữa tỉnh Cà Mau và tỉnh Kiên Giang được xác định theo hướng vuông góc với đường cơ sở, nhưng điểm địa giới cuối cùng trên đất liền là điểm trung tuyến của đoạn nối giữa điểm địa giới cuối cùng giữa hai tỉnh trên đất liền với khu vực đảo thuộc huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang.
+ Đường ranh giới hành chính trên biển khu vực đảo Phú Quốc, căn cứ theo vùng nước lịch sử giữa Việt Nam và Campuchia đã được xác định theo Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia ký ngày 18/02/1979. Các đảo (trừ đảo Phú Quốc) thuộc vùng nội thủy của Việt Nam tại khu vực này hưởng quy chế quản lý 12 hải lý tính từ đường bờ nước. Ranh giới giữa Việt Nam và Campuchia được xác định theo trung tuyến của điểm nhô ra nhất của đảo Phú Quốc và điểm nhô ra nhất bờ biển Campuchia (trung tuyến bờ - bờ).

b) Nguyên tắc quản lý các đảo trên vùng biển Việt Nam

- Đối với các xã đảo và các đảo có dân cư sinh sống: 
+ Đối với các xã đảo và các đảo có dân cư sinh sống thì giữ nguyên theo thực tế đơn vị hành chính đang quản lý, áp dụng quy chế quản lý 12 hải lý tính từ đường bờ nước của đảo.
+ Đối với đảo, quần đảo gần nhau có nhiều đơn vị hành chính đang quản lý dẫn đến sự chồng lấn trong phạm vi 12 hải lý thì chia đôi vùng chồng lấn.
+ Đối với những đảo gần bờ, cách bờ dưới 12 hải lý thì được phép quản lý đến 03 hải lý. 

- Đối với các đảo không có dân cư sinh sống đã quy thuộc cho đơn vị hành chính cấp huyện thì phạm vi quản lý lấy theo giới hạn đường bờ nước.

- Đối với các đảo không có dân cư sinh sống chưa quy thuộc cho đơn vị hành chính nào thì giao quyền quản lý cho cấp tỉnh và tính theo giới hạn đường bờ nước. 

3. Những khó khăn, vướng mắc và giải pháp

Theo Quyết định số 513/QĐ-TTg ngày 02/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Dự án “Hoàn thiện, hiện đại hóa hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính và xây dựng cơ sở dữ liệu về địa giới hành chính” thì việc phân định ranh giới quản lý hành chính biển, đảo giữa các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã ven biển và trên biển được tính từ điểm phân định địa giới hành chính cuối cùng trên đất liền đã thể hiện trên hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính 364-CT (tại đường mép bờ nước biển trên bản đồ) đến đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Tuy nhiên, tại Điều 3 Luật Biển Việt Nam năm 2012 quy định: “Vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia Việt Nam” và tại Điều 1 Luật Biên giới quốc gia năm 2003 quy định: “Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Do vậy, việc phân định ranh giới quản lý hành chính biển, đảo cần phải được tính từ điểm địa giới cuối cùng trên đất liền đến đường biên giới quốc gia trên biển.

Để phân định được ranh giới quản lý hành chính biển, đảo cần phải xác định được ít nhất 05 điểm đặc trưng trên đường ranh giới hành chính trên biển giữa các địa phương liên quan như đã nêu trên đây. Trong số 05 điểm đặc trưng này, hiện nay chưa có căn cứ để xác định điểm triều kiệt do Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa xác định được đường triều kiệt trung bình nhiều năm theo quy định. Do vậy, để bảo đảm tiến độ triển khai thực hiện Dự án do Thủ tướng Chính phủ quy định, trước mắt tạm thời lấy điểm giao cắt giữa đường ranh giới hành chính trên biển với đường mép bờ nước biển tại thời điểm thực hiện phân định ranh giới quản lý hành chính biển, đảo là điểm triều kiệt.

Phân định ranh giới quản lý hành chính biển, đảo là nhiệm vụ lần đầu tiên có chủ trương tổ chức thực hiện ở nước ta. Đây là công việc mới, rất phức tạp, có hệ quả làm thay đổi đường địa giới hành chính và phạm vi quản lý hành chính của các địa phương ven biển. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về thẩm quyền và quy trình, thủ tục phân định ranh giới quản lý hành chính biển, đảo cho các địa phương ven biển. Do vậy, để công tác phân định ranh giới quản lý hành chính biển, đảo mang lại liệu quả thiết thực, các cấp có thẩm quyền cần xem xét, có quy định cụ thể về thẩm quyền và quy trình, thủ tục phân định ranh giới quản lý hành chính biển, đảo giữa các địa phương ven biển làm căn cứ tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ giao./.

Vũ Đình Khang  - Vụ Chính quyền địa phương, Bộ Nội vụ
 

-----------------------

Ghi chú:
(1) Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam do Chính phủ quy định (Điều 8 Luật Biển Việt Nam năm 2012).
 

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Về “sức mạnh mềm” Việt Nam

Ngày đăng 21/06/2019
Việt Nam có nền văn hóa với bề dày truyền thống hàng nghìn năm. Nền văn hóa đó có bản sắc riêng và được coi là rất mạnh, nên không dễ đồng hóa. Văn hóa Việt Nam do những con người được đánh giá là thông minh và sáng tạo, dũng cảm và bản lĩnh, hiếu học và cần cù, khoan dung và nhân hậu,… sáng tạo ra. Đó là “sức mạnh mềm” Việt Nam.

Đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay

Ngày đăng 19/06/2019
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, cần tiếp tục nghiên cứu đổi mới toàn diện và đồng bộ từ nhận thức, quy trình, nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng đến kiện toàn, tổ chức lại hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, phân cấp quản lý, xây dựng đội ngũ giảng viên, cơ chế quản lý kinh phí, hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.

Xây dựng chính phủ điện tử, chính phủ số ở Việt Nam

Ngày đăng 10/06/2019
Triển khai chính phủ điện tử, chính phủ số là xu hướng tất yếu để nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của Chỉnh phủ, nhằm đẩy lùi nạn tham nhũng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Bài viết phân tích, đánh giá chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về vấn đề này qua từng giai đoạn, đề xuất một số giải pháp góp phần xây dựng, phát triển chỉnh phủ điện tử, chính phủ số ở nước ta trong thời gian tới.

Hoàn thiện quy định về tổ chức và hoạt động của quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

Ngày đăng 07/06/2019
Những năm gần đây, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách được thành lập ở nhiều bộ, ngành, địa phương và hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau nhằm hỗ trợ thực hiện các chính sách phát triển kinh tế, an sinh xã hội của Nhà nước. Mô hình tổ chức của các quỹ rất đa dạng nhưng cho đến nay chưa có văn bản quy định thống nhất về vấn đề này. Bài viết đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định về tổ chức và hoạt động của quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách.

Những vấn đề đặt ra trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức hiện nay

Ngày đăng 07/06/2019
Trong nền hành chính, việc cập nhật những kiến thức mới cho cán bộ, công chức thông qua đào tạo, bồi dưỡng là rất cần thiết để hướng tới nền hành chính chuyên nghiệp. Vấn đề đặt ra là phải tiếp cận được đầy đủ công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức để có giải pháp phù hợp nhằm mang lại hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển của đất nước trong giai đoạn hội nhập và phát triển.

Tiêu điểm

Hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu chiến lược cán bộ của Đảng

Tiếp tục quán triệt, hoàn thiện Chiến lược cán bộ và nhiệm vụ đề ra tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: “Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ” và “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và thực hiện thành công Chiến lược cán bộ của Đảng, nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đặt ra đối với Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ trong thời gian tới là cần phải thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW thành các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức (CBCC).