Hà Nội, Ngày 10/12/2018

Hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam

Ngày đăng: 05/12/2018   03:23
Mặc định Cỡ chữ
Qua 20 năm triển khai thực hiện chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về thực hiện dân chủ ở cơ sở (1998-2018) đã đem lại nhiều thay đổi quan trọng và tích cực trong đời sống chính trị - xã hội ở nước ta, nhất là cấp cơ sở. Tuy nhiên, bối cảnh và thực tiễn hiện nay cũng cho thấy pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở cần được tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện.
Người dân Khu phố 1, thị trấn Bích Động (Việt Yên, Bắc Giang) thường xuyên đọc thông tin trên bảng tin dân chủ. Ảnh: Báo Bắc Giang

Pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở là lĩnh vực pháp luật về quyền dân sự của người dân. Ở Việt Nam, theo nghĩa rộng pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở có phạm vi điều chỉnh rộng, gồm: điều chỉnh vấn đề thực hiện dân chủ của người dân, nhất là ở xã (trước đây) và nay là xã, phường, thị trấn; điều chỉnh về thực hiện dân chủ trong cơ quan hành chính nhà nước, trong các đơn vị sự nghiệp công lập; trong các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động. Theo nghĩa hẹp, pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở quy định những nội dung mà chính quyền xã (gồm Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND), Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức, cá nhân, cán bộ, công chức, có trách nhiệm kịp thời công khai để nhân dân biết, những việc nhân dân được bàn và quyết định, những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát; những nội dung liên quan đến trách nhiệm của người có thẩm quyền ở cơ sở. 

Mức độ hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở là điều kiện quan trọng để tạo môi trường cho thực hiện và áp dụng pháp luật. Khi pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở đảm bảo tính đồng bộ, phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu khách quan của đời sống xã hội, đồng nghĩa với quyền lợi, tiếng nói của người dân được coi trọng. Tuy nhiên, thực tế hiện nay có nhiều vấn đề phát sinh cần nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở để bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích và việc giám sát của người dân có hiệu quả. Bài viết tập trung đánh giá và đề xuất kiến nghị chủ yếu vào các quy định của Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.

1. Quy định pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở

Nhằm đưa vấn đề thực hiện dân chủ ở cơ sở vào cuộc sống với phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn được Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI ban hành, đánh dấu bước tiến mới trong thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng về dân chủ ở cơ sở và pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Căn cứ Điều 28 Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT ngày 17/4/2008 để hướng dẫn thi hành các điều 11, 14, 16, 22, 26 của Pháp lệnh.

Cùng với Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn điều chỉnh vấn đề dân chủ cơ sở tại các đơn vị sự nghiệp công lập và trong cơ quan hành chính nhà nước thông qua Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ. Cụ thể hóa khoản 3, Điều 63 Bộ luật Lao động năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc gồm các doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê, mướn, sử dụng lao động làm việc theo hợp đồng. 
Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, Nghị định số 04/2015/NĐ-CP và Nghị định số 60/2013/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo những bước chuyển mới trong việc thực hiện dân chủ trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp có sử dụng lao động và nhất là ở xã, phường, thị trấn. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng tạo động lực thúc đẩy, phát huy quyền làm chủ của người dân, thu hút người dân tham gia, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp.

2. Những ưu điểm và hạn chế của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện nay
2.1 Ưu điểm
- Pháp luật hiện hành về thực hiện dân chủ ở cơ sở quy định khá đầy đủ, chi tiết về các nội dung: trách nhiệm của người đứng đầu trong việc công khai, minh bạch các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của cơ quan, đơn vị đến cán bộ, công chức, viên chức; trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc thực hiện dân chủ về ký kết và thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, quy chế đối thoại, công khai tài chính, quản lý sử dụng tài sản công, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với người lao động đúng quy định của pháp luật; những vấn đề người dân được biết, được thực hiện, được quyết định đảm bảo quyền dân chủ của mình ở xã, phường, thị trấn. 

- Pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã quy định rõ về phạm vi công khai để nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ sở như: 

+ Về các hành vi bị nghiêm cấm trong quá trình thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; 

+ 11 nội dung chính quyền cấp xã phải công khai cho nhân dân biết theo các hình thức khác nhau, trong đó có 04 nội dung công khai bằng hình thức niêm yết tại trụ sở HĐND, UBND cấp xã và 07 nội dung công khai trên hệ thống truyền thanh cấp xã; qua trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố để thông báo đến nhân dân;

+ Các nội dung nhân dân được bàn và quyết định trực tiếp và những nội dung công việc nhân dân sau khi bàn, biểu quyết theo đa số thì phải được cấp có thẩm quyền công nhận mới có giá trị thi hành;

+ Về trách nhiệm của trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố;

+ Về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền cấp trên như: lấy ý kiến nhân dân trước khi quyết định về những việc liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của công dân; chỉ đạo UBND cấp xã tổ chức lấy ý kiến nhân dân; cung cấp các tài liệu cần thiết cho việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân; tiếp thu ý kiến nhân dân về những nội dung đã đưa ra lấy ý kiến;

+ Về những nội dung nhân dân giám sát: nhân dân được quyền giám sát tất cả những nội dung phải công khai, những nội dung nhân dân bàn và quyết định, những nội dung cơ quan có thẩm quyền phải đưa ra lấy ý kiến nhân dân... Nhân dân thực hiện quyền giám sát thông qua hình thức gián tiếp hoặc trực tiếp. 

- Pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thể hiện tính ưu việt trong việc Nhà nước tạo ra công cụ pháp lý về thực hiện dân chủ ở cơ sở, trao cho người dân ở xã, phường, thị trấn những quyền dân chủ thực sự. Đó là các quyền được biết, được bàn, được quyết định trực tiếp; được tham gia ý kiến và quyền được giám sát. 

- Pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và các văn bản hướng dẫn thi hành góp phần duy trì mối quan hệ thường xuyên, chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở trong việc đảm bảo quyền dân chủ, phát huy quyền dân chủ của nhân dân, như mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền với Mặt trận Tổ quốc ở cơ sở; giữa người dân với cán bộ, công chức trực tiếp làm việc tại xã, phường, thị trấn…

2.2 Hạn chế

Qua 20 năm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, các văn bản quy phạm pháp luật đã có nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thay thế để phù hợp tình hình phát triển kinh tế, xã hội và yêu cầu ngày càng cao của người dân về dân chủ, công khai, minh bạch đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Tuy nhiên, pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở đang bộc lộ những hạn chế nhất định, cần phải nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế cho phù hợp, nhất là những bất cập, hạn chế trong Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11.

Một là, nội dung quy định về lấy phiếu tín nhiệm tại Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường thị trấn không còn phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành và được quy định mới tại văn bản quy phạm pháp luật khác đã có hiệu lực thi hành. Cụ thể là, Điều 26 của Pháp lệnh quy định về lấy phiếu tín nhiệm không còn hiệu lực, do Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 35/2012/QH13 ngày 21/11/2012 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn (Nghị quyết số 35/2012/QH13) và Nghị quyết số 516/2013/UBTVQH13 ngày 16/01/2013 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 35/2012/QH13. Tại khoản 2, Điều 15, Nghị quyết số 35/2012/QH13, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã bãi bỏ Điều 26 Pháp lệnh.

Hai là, quy định tại Pháp lệnh chưa rõ trách nhiệm và chưa cụ thể về sự phối hợp giữa cơ quan nhà nước ở địa phương với cơ quan nhà nước cấp trên trong thực hiện dân chủ ở cơ sở. 

Quy định tại Pháp lệnh chỉ giao cho HĐND và UBND cấp xã triển khai, chịu trách nhiệm chính để thực hiện dân chủ ở cơ sở, song vấn đề về chỉ đạo của cấp trên và mối quan hệ của HĐND, UBND xã, phường, thị trấn đối với HĐND, UBND cấp huyện với HĐND, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa được thể hiện rõ trong quy định hiện hành. Điều này dẫn tới khó khăn trong quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đối với những vấn đề có tính chất phức tạp, cần nhiều cấp có ý kiến thông qua mới được công khai hoặc thông tin kịp thời để người dân biết. 

Pháp lệnh không quy định thẩm quyền theo dõi, kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên đối với việc thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn. Do đó, khi có vấn đề về thực hiện không nghiêm, không đúng quy định pháp luật về dân chủ ở cơ sở thì khó có căn cứ để đánh giá, xem xét trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong sai phạm, vi phạm. 

Ba là, trách nhiệm và các biện pháp cụ thể xử lý khi có vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở chưa được quy định rõ. Pháp luật hiện hành quy định chưa cụ thể về trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc tuân thủ hoặc không tuân thủ pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Do đó, khi có vi phạm xảy ra thì việc xử lý vi phạm còn hạn chế, bị động. 

Bốn là, một số quy định tại Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thiếu tính khả thi trong thực tế.

Pháp lệnh có quy định về những vấn đề dân bàn, quyết định trực tiếp, ví dụ, chủ trương, mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí; việc bàn, quyết định trực tiếp thông qua các cuộc họp hoặc phát phiếu và nếu số lượng người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố hoặc trong toàn cấp xã thì tổ chức lại cuộc họp. Quy định này khó đảm bảo tính khả thi bởi các cử tri đi làm ăn xa không có người đại diện tham gia các cuộc họp tại thôn, tổ dân phố. Do đó, quy định về trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố hoặc trong toàn xã bỏ phiếu tán thành thì mới có giá trị thi hành là khó đảm bảo tính khả thi trên thực tế. 

3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở

Trước những vướng mắc, bất cập hiện nay của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cần có sự nghiên cứu nhằm hoàn thiện theo hướng ban hành Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở để thay thế Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Các quy định tại Luật cần nghiên cứu quy định theo hướng:
 

Thứ nhất, phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 về đảm bảo điều kiện thuận lợi để nhân dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp hoặc dân chủ đại diện, nhất là thực hiện quyền dân chủ của người dân ở cơ sở, là nơi cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền hoạt động, tác động trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của người dân. Hiện nay, các quy định của pháp luật liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người dân tại các văn bản luật khác nhau đang được tiến hành sửa đổi, bổ sung để phù hợp với Hiến pháp năm 2013, do đó, việc đánh giá, tổng kết kết quả hơn 10 năm thi hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn để có căn cứ xây dựng Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở thay thế Pháp lệnh là cần thiết.     

Thứ hai, đổi mới các quy định tại Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở theo hướng: rà soát, so sánh, đối chiếu giữa Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 với Luật tiếp cận thông tin, Luật trưng cầu ý dân, Luật an ninh mạng, các dự thảo Luật tổ chức thi hành pháp luật, Luật ban hành quyết định hành chính,… để quy định rõ những vấn đề, nội dung cấm công khai, cấm cung cấp thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật quốc gia, liên quan đến an toàn, an ninh, chủ quyền quốc gia; các vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích của người dân cần được công khai, cung cấp thông tin kịp thời bằng các phương thức khác nhau để người dân được biết, được kiểm tra, được bàn. Quy định hiện nay về 11 nội dung (trong đó có 10 nội dung quy định cơ bản và 01 nội dung quy định theo hướng mở) cần được công khai, thông báo cho người dân tại Pháp lệnh chưa bao phủ hết yêu cầu của người dân và chưa đảm bảo tính minh bạch, công khai, dân chủ, chưa phù hợp với quan điểm của Đảng về đảm bảo dân chủ của người dân theo phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân quyết định”.

Thứ ba, quy định thêm các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp để người dân thể hiện quan điểm, chính kiến trong việc ban hành quyết định hành chính của người đứng đầu cơ quan nhà nước ở địa phương. Khi người đứng đầu cơ quan nhà nước chưa làm tròn trách nhiệm, có sai phạm trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, người dân có quyền lên tiếng và phản hồi. Vấn đề người dân trực tiếp bầu Chủ tịch UBND cấp xã cũng cần được nghiên cứu để có quy định phù hợp.  
 

Thứ tư, quy định rõ hơn về thẩm quyền, chức năng của cơ quan nhà nước cấp trên trong giám sát, kiểm tra HĐND, UBND xã, phường, thị trấn trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở và cơ chế phối hợp giữa cơ quan cấp trên, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở. 

Thứ năm, quy định rõ trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở. Theo đó, khi thực hiện không đúng quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở, có sai phạm, để xảy ra sai phạm thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật, trước nhân dân về những sai phạm của mình. 
Thứ sáu, quy định cụ thể về chế tài xử lý, căn cứ pháp lý để xử lý sai phạm trong thực hiện dân chủ ở cơ sở, đồng thời quy định về chế độ khen thưởng xứng đáng đối với cá nhân có thành tích tốt trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở. 

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định: “dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của đại đa số nhân dân, gắn với quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, được pháp luật đảm bảo dưới sự lãnh đạo của Đảng, là một hình thức thể hiện quyền tự do, bình đẳng của công dân, xác định nhân dân là chủ thể quyền lực”.

Hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở ở nước ta hiện nay là vấn đề cần được nghiên cứu, có tổng kết thực tiễn; đặc biệt cần tổng kết, đánh giá hiệu quả việc thực hiện dân chủ ở cơ sở trong 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng để định hướng sửa đổi, bổ sung, thay thế nhằm thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành và phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013. 

TS. Trần Thị Minh Châu - Vụ Pháp chế, Bộ Nội vụ
-----------------------

Ghi chú:
(1) Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn, 1995, tr.653.
    Tài liệu tham khảo:
    1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H.2016.
    2. Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.
    3. PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến, Cơ chế đảm bảo dân chủ trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Nxb Tư pháp, H.2018.
    5. TS. Nguyễn Hồng Chuyên, Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Tư pháp, H.2016. 
 

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Phát huy vai trò thi đua, khen thưởng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Ngày đăng 07/12/2018
Hưởng ứng Lời kêu gọi thi đua ái quốc và thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”,“những người thi đua là những người yêu nước nhất”, thi đua, khen thưởng được coi là một công cụ quản lý của Nhà nước nhằm góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, là động lực để xây dựng con người mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thực trạng thí điểm nhất thể hóa chức danh lãnh đạo và hợp nhất các cơ quan đảng, nhà nước tương đồng chức năng, nhiệm vụ ở các địa phương hiện nay

Ngày đăng 04/12/2018
Trong phần phương hướng tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy đảng và hệ thống chính trị, Báo cáo chính trị của Đại hội XII nêu chủ trương “ Nghiên cứu thực hiện thí điểm hợp nhất một số cơ quan đảng và nhà nước tương đồng về chức năng, nhiệm vụ” và “ Sớm tổng kết mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện ở những nơi có đủ điều kiện”. Đây là một chủ trương rất đáng chú ý, có tính đột phá của Đảng. Bài viết góp phần trả lời các câu hỏi đặt ra là: chủ trương này có cơ sở lý luận và thực tiễn nào? từ sau Đại hội XII của Đảng, các địa phương đã thực hiện chủ trương này như thế nào, đạt kết quả gì? Trên phạm vi cả nước, cần tiếp tục thí điểm hay cần triển khai rộng rãi ở tất cả các cấp địa phương? Nếu tiếp tục làm thí điểm thì cần điều kiện gì?

Để quy định trách nhiệm nêu gương đi vào cuộc sống

Ngày đăng 03/12/2018
Ph. Ăngghen nhấn mạnh, trong công tác vận động quần chúng phải có phương pháp, đặc biệt là phương pháp nêu gương và giúp đỡ, không được dùng phương pháp mệnh lệnh, áp đặt. V.I. Lênin đề ra nhiệm vụ hàng đầu cho các Đảng cộng sản là phải “thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của Cương lĩnh và sách lược của mình”[1].

Sử dụng công nghệ thông tin quản lý cơ sở dữ liệu tổ chức bộ máy và biên chế trong toàn hệ thống chính trị

Ngày đăng 03/12/2018
Cơ sở dữ liệu (CSDL) về tổ chức bộ máy và biên chế (TCBM&BC) là một trong những nguồn CSDL quốc gia quan trọng, phục vụ cho công tác quản lý, điều hành tổ chức và nhân sự của Đảng và Nhà nước. Trong những năm qua, mặc dù có nhiều khó khăn về ngân sách, nguồn lực con người, nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới vấn đề này. 

Thực hiện chủ trương bố trí cán bộ chủ chốt cấp huyện không phải là người địa phương hiện nay

Ngày đăng 30/11/2018
Bố trí cán bộ chủ chốt không phải là người địa phương (KPLNĐP) trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay là một chủ trương, một nhiệm vụ, giải pháp lớn nhằm đổi mới công tác cán bộ của Đảng trong tình hình mới; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy lãnh đạo, quản lý, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi những vấn nạn tiêu cực, nhức nhối trong công cán bộ của Đảng ta những năm gần đây. Nhân tố có tính quyết định để thực hiện tốt các giải pháp bố trí cán bộ chủ chốt cấp huyện KPLNĐP là sự nhận thức sâu sắc và ý thức trách nhiệm cao của cấp ủy Đảng các cấp, của đội ngũ cán bộ và sự chỉ đạo sâu sát, kiểm tra, giám sát thường xuyên của cấp ủy cấp trên.

Tiêu điểm

Hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu chiến lược cán bộ của Đảng

Tiếp tục quán triệt, hoàn thiện Chiến lược cán bộ và nhiệm vụ đề ra tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: “Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ” và “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và thực hiện thành công Chiến lược cán bộ của Đảng, nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đặt ra đối với Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ trong thời gian tới là cần phải thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW thành các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức (CBCC).

Thể lệ gửi bài đăng

Thông tin tuyên truyền