10/06/2013 02:44
Một số vấn đề về tăng cường công tác quản lý và bảo trì hệ thống quốc lộ ở Việt Nam

Hiện nay toàn bộ hệ thống quốc lộ (QL) ở nước ta gồm 92 tuyến, tổng chiều dài 17.646 km, mật độ QL là 0,053 km/km2

        1. Thực trạng công tác quản lý, bảo trì hệ thống quốc lộ

Ở Việt Nam, giao thông vận tải đường bộ chiếm tỷ trọng lớn nhất về vận tải trong nội địa. Do sự phát triển kinh tế - xã hội, xu hướng này tiếp tục gia tăng trong những năm tới. Để đáp ứng nhu cầu về vận tải trên đường bộ, bên cạnh việc đầu tư xây dựng mới, bổ sung cho mạng lưới đường bộ và nâng cấp mở rộng các tuyến đã có, công tác quản lý, bảo trì là chiến lược quan trọng và là một bộ phận trong chiến lược quản lý tài sản, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở nước ta.

Hiện nay toàn bộ hệ thống quốc lộ (QL) ở nước ta gồm 92 tuyến, tổng chiều dài 17.646 km, mật độ QL là 0,053 km/km2, trong đó cao nhất tại đồng bằng Bắc Bộ với 0,099 km/km2, thấp nhất tại Tây Nguyên là 0,0374 km/km2. Theo chiều dài, hệ thống QL chiếm 6% chiều dài toàn bộ mạng lưới đường bộ, nhưng đều là các tuyến huyết mạch, có ý nghĩa quan trọng về giao thông vận tải và chiếm khối lượng vận tải lớn nhất  so với các tuyến đường khác trong toàn bộ mạng lưới đường bộ nước ta.

Về mặt kỹ thuật, hệ thống QL hiện nay có 47,6% đạt cấp III trở lên, 7,3% tuyến đường có mặt đường rộng ≥ 14m đủ cho 4 làn xe cơ giới. Còn lại là đường dưới cấp III, chỉ đủ 2 làn xe cơ giới trở xuống, mặt đường láng nhựa hoặc cấp phối, chất lượng mặt đường trung bình hoặc xấu. Các chỉ tiêu chính về chất lượng hệ thống quốc lộ như sau:

- Theo ước tính, mạng lưới đường bộ có trên 20.000 cầu với nhiều loại và quy mô khác nhau. Hệ thống QL tuy chưa có phân loại chính thức, nhưng theo các đợt khảo sát gần đây vẫn còn hàng nghìn cầu yếu, cầu hẹp, tải trọng thiết kế không đáp ứng vận tải và không đồng bộ với tuyến đường. Chỉ tính riêng kế hoạch sửa chữa nhỏ và vừa để đảm bảo giao thông năm 2012 các Khu quản lý đường bộ có hàng chục dự án sửa chữa cầu.

 - Kết quả hoạt động của cả hệ thống quản lý, bảo trì trong nhiều năm qua góp phần bảo vệ, chống xuống cấp và gìn giữ tình trạng kỹ thuật hệ thống QL được khai thác trong điều kiện khá an toàn, thông suốt phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đi lại của nhân dân.

 1.1. Những tồn tại và hạn chế

- Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ thiếu, chất lượng hạn chế, không đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu vận tải ngày càng gia tăng. Nguyên nhân là do đầu tư xây dựng chưa theo kịp nhu cầu vận tải, công tác bảo trì chưa tốt dẫn đến kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sau khi đưa vào khai thác nhanh hư hỏng, xuống cấp.

- Phương thức lựa chọn đơn vị quản lý và duy tu bảo dưỡng còn lạc hậu, chưa tạo điều kiện xã hội hóa mạnh mẽ công tác này.

- Tổ chức bộ máy làm công tác quản lý bảo trì chậm đổi mới, có mặt chưa phù hợp với chính sách pháp luật hiện nay. Các công ty quản lý sửa chữa đường bộ của Nhà nước (giai đoạn 2002 trở về trước) đã được cổ phần hóa và chuyển đổi theo Luật Doanh nghiệp 2005; từ giữa năm 2012, các Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được chuyển về các Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông (CIENCO) theo chủ trương của Thủ tướng Chính phủ.

- Trình độ khoa học kỹ thuật, thiết bị, công nghệ sử dụng trong lĩnh vực bảo trì thấp, chậm đổi mới.

- Hệ thống các quy định pháp luật về quản lý, bảo trì đường bộ còn bất cập, có mặt chưa phù hợp; tiêu chuẩn và định mức trong bảo trì lạc hậu so với thực tế.

- Vốn dành cho quản lý bảo trì thấp, chưa tương xứng với chiều dài mạng lưới đường bộ và áp lực vận tải lên mạng lưới đường bộ hiện nay.

- Công tác kiểm soát tải trọng xe chưa hiệu quả.

- Quản lý, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, nhất là quản lý bảo vệ hành lang đường bộ và đất của đường bộ còn nhiều tồn tại.

1.2. Nguyên nhân của tồn tại và hạn chế

- Các công ty chưa thực hiện đúng các quy định về quản lý, bảo dưỡng thường xuyên đường bộ.

- Các Khu quản lý đường bộ thiếu lực lượng đóng tại cơ sở để bám tuyến kiểm tra, giám sát và đôn đốc các công ty thực hiện, là nguyên nhân quan trọng làm giảm chất lượng bảo dưỡng các tuyến QL.

- Phương thức hợp đồng và thanh toán theo khối lượng chưa khuyến khích doanh nghiệp chủ động sửa chữa khi hư hỏng mới xuất hiện, đồng thời chưa hoàn chỉnh cơ chế trách nhiệm khi giao hợp đồng cho đơn vị quản lý bảo trì QL.

- Các quy định hiện nay (Tiêu chuẩn 306-03) về quản lý bảo dưỡng còn nhiều bất cập, chưa được sửa đổi bổ sung. Không tách bạch thẩm quyền quản lý nhà nước với chức năng cung cấp dịch vụ bảo trì của các công ty. Ví dụ, quy định công ty quản lý bảo trì tham gia thanh tra việc bảo vệ hành lang đường bộ là không phù hợp. Việc thanh tra phải do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thực hiện. Quy định hàng tháng công ty tổ chức nghiệm thu công tác bảo dưỡng thường xuyên cho các hạt, thực chất đây là nghiệm thu nội bộ, vì hạt là đơn vị thuộc công ty (tương tự nhà thầu xây lắp nghiệm thu nội bộ theo Nghị định số 209/2004/NĐ-CP của Chính phủ). Cơ quan ký và giám sát hợp đồng là các Khu quản lý đường bộ, Sở Giao thông vận tải chỉ tổ chức nghiệm thu theo quý, không kiểm tra nghiệm thu bảo dưỡng từng tháng là không phù hợp với việc quản lý chất lượng và việc thay đổi tổ chức hiện nay. Các quy định về thanh toán dựa trên khối lượng thực tế không phù hợp với công tác quản lý bảo dưỡng.

2. Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý, bảo trì hệ thống quốc lộ

2.1. Đổi mới về công tác giám sát, kiểm soát chất lượng

Thứ nhất, thay việc kiểm tra nghiệm thu từng quý theo quy định tại Tiêu chuẩn bảo dưỡng kỹ thuật thường xuyên đường bộ (Tiêu chuẩn 22TCN306-03) ban hành kèm theo Quyết định số 1527/2003/QĐ-BGTVT ngày 28/5/2003 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải đang áp dụng hiện nay bằng giám sát, kiểm tra thường xuyên, liên tục (tăng tần suất kiểm tra, giám sát). Việc nghiệm thu của chủ đầu tư (Khu, Sở) đối với nhà thầu thực hiện mỗi tháng một lần (tăng mật độ nghiệm thu) nhằm đánh giá sát chất lượng quản lý bảo dưỡng của nhà thầu.

Thứ hai, tăng cường bám theo tuyến đường thay Khu quản lý đường bộ để kiểm tra, giám sát thường xuyên, liên tục và tại chỗ đối với việc thực hiện quản lý, bảo dưỡng của nhà thầu, giúp cho các công ty phản ánh được các phát sinh tại chỗ và phối hợp tốt hơn với địa phương trong quản lý hành lang đường bộ.

2.2. Đổi mới công tác khoa học - công nghệ - môi trường và đẩy mạnh việc cơ giới hóa, hiện đại hóa công tác bảo trì đường bộ

- Xây dựng hệ thông tin về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ trên các QL, hệ thông tin và cơ sở dữ liệu về tình hình quản lý hành lang đường bộ; ứng dụng công nghệ thông tin trong việc lập và quản lý hồ sơ cầu đường; hiện đại hóa từng bước trang bị, phương tiện tuần tra đường.

- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ và vật liệu mới, tiên tiến theo hướng: nâng cao chất lượng, bền vững, thân thiện với môi trường, giảm chỉ tiêu sử dụng nhiên liệu năng lượng và có chi phí hợp lý. Quan tâm đầu tư các loại công nghệ đã được định hình như: công nghệ dán sợi carbon, sợi thủy tinh trong sửa chữa cầu và kết cấu bê tông cốt thép công nghệ làm đường bằng bê tông nhựa nguội; công nghệ asphal carboncor; sử dụng nhũ tương axít trong sửa chữa đường; các công nghệ sản xuất và thi công cọc tường hộ lan phòng hộ an toàn giao thông; ứng dụng các sản phẩm khe co giãn bằng kim loại, thích ứng với điều kiện Việt Nam dùng trong sửa chữa cầu; ứng dụng các công nghệ chống thấm tiên tiến trên thế giới trong công trình cầu, hầm và các kết cấu bê tông cốt thép; công nghệ cào bóc tái chế mặt đường…

2.3. Quản lý tải trọng xe

Tổ chức triển khai có kết quả Quyết định số 1502/QĐ-TTg ngày 11/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể Trạm kiểm tra tải trọng xe trên đường bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Trong đó, giai đoạn 2012-2015 hoàn thành việc đầu tư xây dựng đưa vào hoạt động các trạm kiểm tra tải trọng xe cố định đặt trên những tuyến đường bộ có lưu lượng xe tải nặng lớn hơn 2.200 xe/ngày đêm và một số tuyến cao tốc; đầu tư trang bị cân lưu động để khi cần sẽ thành lập các trạm kiểm tra lưu động. Giai đoạn 2016-2020 tập trung đầu tư xây dựng các trạm kiểm tra cố định với các tuyến đường bộ có lưu lượng xe tải nặng lớn hơn 500 xe/ngày đêm; tổng số trạm kiểm tra cố định triển khai từ năm 2012 đến 2030 là 45 trạm và nhiều nhất trên QL.1 (11 trạm), đường Hồ Chí Minh (4 trạm), QL.3, QL.6 và QL.32 (mỗi QL xây dựng 2 trạm), 24 trạm còn lại đặt trên các QL khác.

2.4. Quản lý hành lang đường bộ

- Tiếp tục đẩy mạnh việc lập lại trật tự hành lang an toàn giao thông đường bộ và chống tái lấn chiếm; nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp và đơn vị chức năng về quản lý hành lang an toàn giao thông đường bộ theo Quyết định số 1856/QĐ-TTg ngày 27/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch lập lại trật tự hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt và Quyết định số 1586/QĐ-TTg ngày 24/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

- Xây dựng quy chế tuần tra, kiểm tra đường, kiểm tra hành lang của nhà thầu nhận bảo dưỡng và đơn vị quản lý đường bộ cơ sở.

- Những vấn đề liên quan đến trách nhiệm của nhà thầu phải quy định cụ thể trong hợp đồng ký với cơ quan đường bộ và có tiêu chí đánh giá để xử lý, giảm trừ kinh phí nếu nhà thầu không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về bảo vệ hành lang đường bộ.

- Trong quỹ bảo trì đường bộ, hàng năm bố trí khoản kinh phí hợp lý cho công tác bảo vệ và giải tỏa hành lang đường bộ.

2.5. Công tác thanh tra, kiểm tra

Công tác thanh tra trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ và xử lý vi phạm đối với công trình đường bộ và hành lang đường bộ là rất cần thiết. Tuy nhiên, theo Luật Thanh tra 2010 và Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ thì tổ chức thanh tra của Tổng cục Đường bộ Việt Nam sẽ không còn. Do đó, công tác đổi mới tập trung vào các nội dung sau:

- Thành lập Vụ Pháp chế - Thanh tra tại Tổng cục Đường bộ Việt Nam và các ban nghiệp vụ thanh tra, các đội nghiệp vụ thanh tra tại các cục đường bộ khu vực.

- Rà soát lại các quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, hành lang đường bộ, làm rõ thẩm quyền của công chức khi tiến hành thanh tra, kiểm tra và thẩm quyền của công an, cảnh sát giao thông…

2.6. Đổi mới phương thức thực hiện, hình thức hợp đồng và phương thức thanh toán

- Tách bạch các nội dung quản lý nhà nước do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện; các công việc sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích trong quản lý bảo trì quốc lộ sẽ giao nhà thầu thực hiện theo các hình thức đấu thầu, đặt hàng hoặc chỉ định thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu và pháp luật về sản xuất cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích.

- Đổi mới phương thức thanh toán theo hướng bỏ quy định nghiệm thu khối lượng làm căn cứ thanh toán (phương thức truyền thống), thay bằng hợp đồng dựa trên chất lượng thực hiện. Nhà thầu được giao quản lý tuyến theo các tiêu chí, yêu cầu về chất lượng, được chủ động thực hiện sửa chữa ngay từ khi có hiện tượng hư hỏng hoặc mới xuất hiện hư hỏng của công trình. Việc thanh toán dựa trên kết quả chất lượng mà nhà thầu thực hiện được đánh giá bởi đại diện chủ đầu tư, tư vấn giám sát. Phương thức mới không căn cứ vào khối lượng sửa chữa để làm căn cứ thanh toán mà căn cứ vào tình trạng chất lượng con đường do nhà thầu bảo dưỡng sửa chữa.

Nguyễn Xuân Cường Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Đường bộ
[5708]
Một số vấn đề về tăng cường công tác quản lý và bảo trì hệ thống quốc lộ ở Việt Nam1. Thực trạng công tác quản lý, bảo trì hệ thống quốc lộ Ở Việt Nam, giao thông vận tải đường bộ chiếm tỷ trọng lớn nhất về vận tải trong nội địa. Do sự phát triển kinh tế - xã hội, xu hướng này tiếp tục gia tăng trong những năm tới. Để đáp ứng nhu
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
TIN MỚI NHẤT
Sửa đổi, bổ sung quy trình công tác cán bộ: Bảo đảm chặt chẽ, thực chất hơn
Mít tinh kỷ niệm 41 năm ngày Quốc khánh nước CHDCND Lào
Nét mới thi nâng ngạch cán bộ, công chức cơ quan đảng, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
Các tin khác
Tin hoạt động Tổ chức nhà nước
(02/12/2016 02:12)
Mít tinh kỷ niệm 41 năm ngày Quốc khánh nước CHDCND Lào
Sáng nay 02/12/2016, tại Hà Nội, Học viện Hành chính quốc gia - Bộ Nội vụ đã tổ chức mít tinh chào mừng kỷ niệm 41 năm ngày  ...
Tin mới nhất

Khẩn trương ban hành quy định về bổ nhiệm lãnh đạo của đơn vị thuộc cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh

Hà Nội giảm 189 phòng, ban, đơn vị sự nghiệp

Kết quả công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016

Nhà nước Việt Nam vì quyền con người và quyền dân tộc tự quyết

Không ‘chúc Tết, phong bì’: Thêm một thông điệp về Chính phủ liêm chính

Các chỉ số đánh giá hiệu quả cung ứng dịch vụ hành chính công ở nước ta hiện nay

Đà Nẵng: 100% phường, xã tiếp nhận liên thông văn bản điện tử

Tin xem nhiều

Làm gì để thực sự đổi mới đánh giá cán bộ?

Môi trường làm việc là điều kiện để cán bộ, công chức phát huy khả năng công tác

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu - Một năm nhìn lại

Luân chuyển cán bộ cấp xã

Hai sáng kiến cải cách thủ tục hành chính

Tăng cường giáo dục nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo

Về chế định miễn nhiệm, bổ sung thành viên UBND

Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Tuấn
Trụ sở tòa soạn: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0804 6422, 0804 6543; Fax: 0804 6621 - Email: Tapchitcnn@moha.gov.vn
Bản quyền thuộc Tạp chí Tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ
Giấy phép xuất bản: Số 407/GP-BTTT ngày 27/9/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

®Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước là cơ quan báo chí của Bộ Nội vụ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.