07/11/2018 10:12
Tác động của khuôn mẫu giới tới sự phát triển của phụ nữ trong khu vực công

Khuôn mẫu giới là những định hình, biểu hiện nổi bật của định kiến giới, là nguyên nhân cố hữu của việc duy trì những định kiến giới và phân biệt đối xử theo giới. Những khuôn mẫu này đã và đang tác động tiêu cực tới sự phát triển của phụ nữ trong khu vực công ở Việt Nam.

Ảnh minh họa: internet

1. Khuôn mẫu giới thực chất là những kinh nghiệm, tri thức của một nhóm xã hội cụ thể và được khái quát từ sự mong đợi của xã hội về người phụ nữ và nam giới. Ở một góc độ khác, khuôn mẫu giới có thể coi là sự nhận thức trực quan, thậm chí có phần chủ quan mang tính quy kết về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ. Ví dụ như về tính cách, nam giới phải mạnh mẽ, táo bạo, dũng cảm, biết kiềm chế; còn phụ nữ ngược lại phải dịu dàng, tế nhị, phụ thuộc, dễ bộc lộ cảm xúc…

Về năng lực, phần lớn cho rằng nam giới sẽ thiên về khoa học tự nhiên, có tư duy sáng tạo, có đầu óc quản lý, thích hợp với việc lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Còn nữ giới được tin rằng chỉ thích hợp với công việc nhẹ nhàng, khéo léo, đòi hỏi sự kiên nhẫn, bền bỉ, thích hợp với công việc tề gia nội trợ, hỗ trợ ở phía sau.

Về vai trò xã hội, từ trong gia đình và xã hội cũng mặc định định hướng công việc cho nữ giới và nam giới. Chẳng hạn, nam giới phải được thấy ở trong vai trò làm chủ, giải quyết công việc đại sự, là trụ cột của gia đình. Trong khi đó, nữ giới lại giữ vai trò hỗ trợ, làm các công việc nhẹ nhàng và thu vén trong gia đình...

Thực tế, những khuôn mẫu được hình thành từ các đặc trưng về giới và vai trò xã hội của mỗi giới trong tiến trình phát triển của xã hội, đồng thời chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa và các điều kiện địa lý - nhân văn. Tuy nhiên, khi xã hội phát triển, yếu tố văn hóa, nhận thức, tính cách của hai giới có những thay đổi, vai trò xã hội của hai giới cùng được coi trọng nhưng các khuôn mẫu giới vẫn chậm thay đổi. Nguyên nhân một phần bắt nguồn chính từ việc tạo ra những hình ảnh lý tưởng gắn với giới tính của mỗi giới. Cùng với đó, các nền văn hóa, các yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo với những nhận thức về nhân sinh quan, thế giới quan vẫn duy trì những điểm phóng đại sự khác biệt giữa nam giới và phụ nữ.

Có thể thấy ở Việt Nam, vị trí lãnh đạo mà nam giới đang chiếm ưu thế được củng cố bởi niềm tin là nam giới có phẩm chất và năng lực lãnh đạo hơn so với nữ giới, cho dù thực tế trong nước cũng như trên thế giới và ở nhiều nghiên cứu đã chỉ ra phụ nữ không hề thiếu năng lực lãnh đạo, thậm chí ở một số phẩm chất của người lãnh đạo hiện đại phụ nữ còn nổi trội hơn. Phụ nữ được cho là giỏi nấu nướng và may vá, nhưng trong thực tế, hầu hết đầu bếp và nhà thiết kế thời trang nổi tiếng là nam giới. Trong sử dụng ngôn ngữ văn chương, phần lớn nhà văn đạt giải Nobel là nam giới, ngược lại những nhà khoa học nữ có cống hiến lớn trong lĩnh vực khoa học tự nhiên cũng không ít.

Như vậy, khuôn mẫu giới khi đã định hình trong xã hội, trong mỗi con người, tạo ra hình ảnh phiến diện về năng lực, vai trò và bản chất con người. Khuôn mẫu giới tồn tại phổ biến trong xã hội tức là nó cũng tồn tại trong cả niềm tin và nhận thức của nữ giới. Đây cũng chính là một rào cản của chính nữ giới trong việc thực hiện bình đẳng giới.

Trong khu vực công, các khuôn mẫu giới tạo ra những cản trở trực tiếp, gián tiếp, cụ thể trước mắt và cả trong tâm tưởng, niềm tin đối với cán bộ, công chức, viên chức nữ. Theo đó, một quan niệm phổ biến là phụ nữ thì yếu kém hơn nhiều mặt, không nên cản đường thăng tiến phát triển của nam giới trong cơ quan công quyền. Xu thế đông nam giới, đồng thời cho rằng phụ nữ không thông minh, tài giỏi bằng đàn ông cũng ngăn cản phụ nữ khẳng định năng lực của mình và được tham gia vào các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực. Mặt khác, trong việc quy hoạch, bổ nhiệm, phụ nữ thường ít được chú ý hơn. Nhiều người suy nghĩ rằng, vị trí dành cho nữ là do được cơ cấu trước nếu không phụ nữ cũng không có cơ hội.v.v... Trên bình diện chung, các khuôn mẫu giới đã chi phối việc trao quyền cho phụ nữ dẫn đến hạn chế vai trò của người phụ nữ trong việc tham gia các hoạt động xã hội, trong đó có khu vực công khi họ có rất nhiều tiềm năng.

Ở một góc độ khác, các khuôn mẫu giới cũ cản trở sự tiến bộ của phụ nữ ở khu vực công thể hiện năng lực của mình bởi hai lớp rào cản rất lớn. Một là, rất dễ bị đồng nghiệp trong đó có cả đồng nghiệp nữ gán cho cái mác hãnh tiến, ham quyền lực, đồng thời bị chính đồng nghiệp nữ cô lập, loại bỏ. Hai là, rào cản của chính bản thân họ, khi sợ rằng khẳng định mình thì không giống với khuôn mẫu đang được cộng đồng thừa nhận và chịu sự phê phán, đánh giá không tốt từ những người xung quanh. Bên cạnh đó, các khuôn mẫu này góp phần tạo ra xu hướng phủ nhận năng lực, thành công của phụ nữ từ phía nam giới khi cho rằng những thành công có được do được giao công việc đơn giản, có sự hỗ trợ từ đồng nghiệp khác giới, may mắn vào vị trí đã được bố trí sắp xếp từ trước.v.v... Mặt khác, khi phụ nữ thất bại, sự đánh giá còn nặng nề hơn và bị quy chụp là thiếu trí tuệ, ý chí, năng lực, thiếu phương pháp.v.v…

Trong một số một trường làm việc, với sự vươn lên của phụ nữ, việc sử dụng khuôn mẫu giới, thổi vào đó những định kiến giới nhằm hạ thấp năng lực của người phụ nữ có thế coi là hành động cạnh tranh không lành mạnh từ phía nam giới.

Bên cạnh những ảnh hưởng của khuôn mẫu giới với những nhận thức tiêu cực, phụ nữ trong khu vực công của Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của tư tưởng gia trưởng - một đặc trưng từ văn hóa và tư tưởng Nho giáo. Đây có thể coi là một khuôn mẫu giới mang tính phức hợp khi nó tạo ra sự chuyển dịch khuôn mẫu giới trong phạm vi gia đình áp vào khu vực công và các tổ chức xã hội khác. Theo đó, còn tồn tại lối hành xử mang tính độc đoán, chuyên quyền trong quan hệ công việc, đồng thời có sự áp chế và sự lạm dụng phụ nữ. Ở nữ giới, một bộ phận cũng mặc định thừa nhận thái độ, hành vi, tư tưởng gia trưởng trong cơ quan, tổ chức, chấp nhận nhẫn nhịn, chịu đựng để làm việc. Tư tưởng gia trưởng tồn tại trong cả hai giới cùng cản trở sự thay đổi trong quan hệ giới.

2. Quốc gia đạt tiến bộ về bình đẳng giới trước hết được thế giới nhìn nhận thông qua các con số thống kê đơn giản về tỷ lệ nữ nghị sĩ, lãnh đạo, người làm việc là nữ trong khu vực công. Thế giới đã ghi nhận những nỗ lực của Việt Nam trong quá trình thực hiện bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị nói riêng. Những nỗ lực này được thể hiện qua những văn bản mang tính pháp lý cao như Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013, Luật Bình đẳng giới năm 2006 và các điều khoản trong các văn bản pháp luật khác. Theo đó quy định nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội, bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức. Bên cạnh đó là các biện pháp mang tính hành chính như bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.v.v...

Tuy nhiên, định kiến và phân biệt đối xử theo giới(1) vẫn đang tồn tại. Việc xóa bỏ các định kiến và phân biệt đối xử theo giới là một quá trình lâu dài, cũng không thể xóa bỏ được tất cả các định kiến do yếu tố sinh học, tâm lý, văn hóa hình thành nên những đặc trưng giới tạo ra những nhận thức khác biệt về vai trò giới ở mỗi giới ngay cả khi xuất hiện tri thức, nhận thức, phong cách ứng xử mới, vai trò xã hội mới. Tuy nhiên, việc can thiệp nhằm thay đổi các khuôn mẫu giới, hay ít nhất là làm giảm thiểu những tác động tiêu cực của khuôn mẫu giới - cơ sở nhận thức mang tính chủ quan làm hình thành nên định kiến và phân biệt đối xử giới khi đối chiếu trong một khu vực, lĩnh vực cụ thể, ở đây là khu vực công là hết sức cần thiết. Giải quyết vấn đề này cần áp dụng một số biện pháp cụ thể sau:

Một là, phải tiếp tục xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa hai giới trong khu vực công. Cụ thể ở đây là các hoạt động thi tuyển. Thực tế trong thị trường lao động nói chung, nam giới hiện không chỉ phải cạnh tranh với nhau mà đã và đang phải cạnh tranh với phụ nữ. Nhiều nhà nghiên cứu cũng lo ngại rằng chính sự cạnh tranh này sẽ tạo ra những định kiến khác về phụ nữ, nhằm hạ thấp vị trí, vai trò của phụ nữ. Tuy nhiên, các định kiến này sẽ xoay chuyển theo một chiều hướng khác và sẽ vấp phải những phản bác khi thực hiện cạnh tranh bình đẳng trên một diện rộng, từ đó dần hình thành những khuôn mẫu giới mới cụ thể và khách quan hơn.

Hai là, tiếp tục phải tạo sự thay đổi nhận thức trong nữ giới, trong đó có nhận thức về sự tách biệt của các môi trường xã hội, đặc biệt là giữa môi trường gia đình truyền thống và môi trường làm việc, từ đó hình thành khuôn mẫu giới ở các khu vực khác nhau trong đó có khu vực công. Điều này trực tiếp giúp xóa bỏ dần tình trạng phụ nữ giữ một khuôn mẫu giới truyền thống có những định kiến, phân biệt đối xử, thậm chí là cư xử nghiệt ngã với phụ nữ khác, đặc biệt là với những phụ nữ cấp tiến, mong muốn làm việc để khẳng định năng lực của bản thân.

Ba là, tiếp tục duy trì, đảm bảo một thể chế pháp lý đầy đủ, có hiệu lực, hiệu quả, một hệ thống chính sách đủ mạnh có lợi cho sự phát triển của phụ nữ, tạo quyền năng cho phụ nữ. Đặc biệt đối với những đóng góp cho xã hội xuất phát từ đặc điểm giới như thời gian mang thai, sinh nở, chăm sóc con cái v.v. cần được lượng hóa, quy đổi, đánh giá công bằng. Qua đó chính sách cho phụ nữ không phải là chính sách ưu tiên mà phải là chính sách đảm bảo công bằng cho phụ nữ. Tiếp tục nhấn mạnh đến việc trao quyền cho phụ nữ trong việc tiếp cận tri thức, nguồn lực, quyền ra quyết định và tăng cường vai trò tham gia của phụ nữ trong hoạt động quản lý nhà nước. Bảo đảm bình đẳng giới trong bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức. Tăng cường công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ, công chức, viên chức nữ. Thực hiện các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

 Bốn là, đẩy mạnh công tác truyền thông, tuyên truyền, giáo dục về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới; về vị trí, vai trò và đóng góp của nữ cán bộ, công chức, viên chức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đặc biệt, trong hoạt động báo chí, truyền thông cần hạn chế việc tạo ra các thông tin, hình ảnh tách biệt quá rõ đâu là vai trò của phụ nữ, đâu là vai trò của nam giới theo một cách nhìn nhận nào đó và các hình ảnh, thông tin chứa đựng các khuôn mẫu về vai trò giới truyền thống cùng định kiến đặt phụ nữ trong khuôn khổ gia đình./.

Hà Quang Trường

-------------------

Ghi chú:

(1) Luật Bình đẳng giới của nước CHXHCN Việt Nam đã nêu rõ hai khái niệm: 1) định kiến giới là nhận thức, thái độ và cách đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ; 2) phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình./.

[1871]
Tác động của khuôn mẫu giới tới sự phát triển của phụ nữ trong khu vực côngẢnh minh họa: internet 1. Khuôn mẫu giới thực chất là những kinh nghiệm, tri thức của một nhóm xã hội cụ thể và được khái quát từ sự mong đợi của xã hội về người phụ nữ và nam giới. Ở một góc độ khác, khuôn mẫu giới có thể coi là sự nhận
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
TIN MỚI NHẤT
Thủ tướng phê chuẩn ông Hồ Đại Dũng giữ chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ
Sáng ngời đạo đức Hồ Chí Minh
Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội để phát triển bền vững đất nước
Các tin khác
Tin hoạt động Tổ chức nhà nước
(09/11/2018 03:12)
Bồi dưỡng kiến thức về công nghệ thông tin cho công chức, viên chức Bộ Nội vụ năm 2018
Sáng 09/11, tại Hà Nội, Bộ Nội vụ tổ chức Lớp bồi dưỡng về hệ thống thông tin của Bộ Nội vụ cho công chức, viên chức và người  ...
Tin mới nhất

Chọn cán bộ có đức, có tài, có triển vọng vào quy hoạch

Đồng Tháp có nhiều sáng tạo và mô hình hay trong cải cách hành chính

“Không để nợ thủ tục hành chính thuộc diện cắt giảm, rút gọn"

Đổi mới tổ chức và hoạt động công đoàn; làm tròn vai trò đại diện, chăm lo, bảo vệ đoàn viên, người lao động; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh; góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Kiểm soát tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng

Một số đề xuất về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện

“Pháp luật quy định mà anh né tránh thì đừng làm Chủ tịch nữa“

Thông tin tuyên truyền

Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Tuấn
Trụ sở tòa soạn: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0804 6422, 0804 6543; Fax: 0804 6621 - Email: Tapchitcnn@moha.gov.vn
Bản quyền thuộc Tạp chí Tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ
Giấy phép xuất bản: Số 407/GP-BTTT ngày 27/9/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

®Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước là cơ quan báo chí của Bộ Nội vụ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.