05/11/2014 03:45
Thách thức của Chính phủ Việt Nam trong quản lý chi tiêu công

Báo cáo tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cho biết, trong điều kiện kinh tế phát triển không thuận lợi, ngân sách vẫn phải tập trung cho đầu tư phát triển, xây dựng kết cấu hạ tầng, thực hiện các chính sách xã hội và tiền lương. Trong khi đó, vay ưu đãi nước ngoài có xu hướng giảm do Việt Nam đã bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình, tỷ trọng vay trong nước tăng, huy động trái phiếu Chính phủ chủ yếu là dưới 5 năm dẫn đến nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ trong ngắn hạn tăng lên. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn bảo đảm trả nợ đầy đủ, không để phát sinh nợ quá hạn.

Hiện nợ công của Việt Nam đến cuối năm 2013 ở mức 54,2% GDP, dự kiến đến hết năm 2014, nợ công bằng 60,3% GDP. Năm 2014, dự kiến tỷ lệ trả nợ trực tiếp của Chính phủ chiếm khoảng 14,2% tổng thu ngân sách (theo quy định của Chiến lược nợ công là không quá 25%), nhưng tính cả vay để đảo nợ và trả nợ vay về cho vay lại thì vào khoảng 26,2%.

Đối với phần lớn người dân, sự quan tâm thường tập trung vào chỉ tiêu tổng nợ công so với GDP và xem nó có ở ngưỡng an toàn hay không. Tuy nhiên, trên thực tế, gánh nặng nợ không phải chỉ được đo bằng tổng số nợ, số nợ phải trả hàng năm cùng lãi suất mà còn ở hiệu quả sử dụng đồng vốn vay. Hiện tại, các nguồn vay của Việt Nam chủ yếu là ODA nên lãi suất bình quân chưa đến 3% và tương đương với lãi suất mà Chính phủ Hoa Kỳ đi vay. Tuy nhiên, nếu các khoản vay ODA sử dụng không hiệu quả và nguồn vay ưu đãi sẽ ít dần mà thay vào đó là các khoản vay thương mại thì nguy cơ gánh nặng nợ công tăng cao rất dễ xảy ra. Tại thời điểm hiện nay, khi nợ công của Việt Nam đã gần chạm ngưỡng cho phép, nhiều thách thức rất lớn đang đặt ra cho Chính phủ trong việc quản lý chi tiêu công.

Cùng thời điểm khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII, tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị thường niên Tổ chức Hành chính miền Đông thế giới EROPA 2014. Trong khuôn khổ của Hội nghị, phóng viên của Tạp chí Tổ chức nhà nước đã có điều kiện ghi lại nội dung bài tham luận của PGS.TS. Lê Chi Mai, Học viện Hành chính quốc gia về việc định hướng giải quyết các thách thức của Chính phủ Việt Nam trong quản lý chi tiêu công.

PGS.TS. Lê Chi Mai trình bày tham luận tại phiên Hội thảo.

Đánh giá bước đầu về việc chi tiêu công của Chinh phủ Việt Nam trong thời gian qua, diễn giả Lê Chi Mai nhận định: Trong những năm qua, chi tiêu công của Chính phủ đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng ở Việt Nam. Bằng trực quan, có thể thấy cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội đã được cải thiện đáng kể. Tỷ lệ hộ dân nông thôn kết nối với điện lưới đã tăng từ 14% năm 1993 lên xấp xỉ 100% năm 2010. Sản lượng điện từ chỗ chỉ đạt 8,8 tỷ Kwh trong năm 1990 lên 80 tỷ kwh trong năm 2009, đạt tốc độ tăng bình quân năm là 13%. Từ năm 2000 đến 2010, tổng chiều dài các tuyến đường trải nhựa tăng gấp 4 lần, từ 30.000km lên 120.000 km. Tỷ lệ hộ gia đình được kết nối với hệ thống cấp nước tập trung tăng từ 12% lên 76% vào năm 2009. Chi tiêu cho giáo dục năm 2012 tăng gấp 9,5 lần so với năm 2000. Đặc biệt, công cuộc xoá đói giảm nghèo đã đạt được thành công đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 28,9 % năm 2002 xuống còn 7,8% năm 2013.

Tuy nhiên, cũng có nhiều vấn đề đang đặt ra trong quản lý chi tiêu công của Chính phủ, thể hiện ở những điểm sau:

 Trước hết, quy mô chi tiêu công tăng nhanh qua các năm, đạt đỉnh cao là năm 2007, với mức tăng là 29,65% so với năm trước đó. Những năm sau, tốc độ tăng chi có giảm thấp hơn, song quy mô chi vẫn lớn. Tốc độ tăng chi 12 năm (2001-2012) là 19,08%, cao hơn so với tốc độ tăng GDP cùng kỳ là 17,29%. Chỉ tính riêng trong năm 2013, chi tiêu của Chính phủ Việt nam cao nhất so với các nước trong khu vực với tỷ lệ 30,9%GDP, trong khi đó trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với các nước này. Điều đó một mặt thể hiện việc Chính phủ Việt Nam đang phải chi tiêu khá lớn để tạo ra các nền tảng bước đầu cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; song mặt khác con số này lại phản ánh một thực tế là tính kém hiệu quả của chi tiêu công ở Việt Nam.

Thứ hai, cơ cấu chi ngân sách có một số vấn đề đáng quan tâm.

Chi trả nợ (cả lãi và gốc) trong tổng chi ngân sách đang gia tăng do quy mô vay nợ trong những năm qua tăng cao và nhiều khoản vay đến hạn. Hiện tại, nghĩa vụ nợ công/thu ngân sách đã ở mức khoảng18% và dự báo số nợ phải trả sẽ vượt qua mức 25%[1] tổng thu ngân sách nhà nước trong 2 năm 2015 và 2016 (là mức an toàn theo quy định của Chính phủ và khuyến nghị của WB). Bên cạnh đó, nợ công trong nước thường ở kỳ hạn ngắn đang gây rủi ro lớn đến ngân sách. Theo Báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2014 của UB kinh tế của Quốc hội,  phần lớn trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn dưới 3 năm và chiếm tỉ trọng lên đến 75,3% trong năm 2013. Chi thường xuyên chiếm tỉ trọng lớn và có xu hướng tăng nhanh, từ mức 51,9% năm 2003 lên 64,9% năm 2010;  67,2% năm 2011 và lên đến 72,1% năm 2012.  Năm 2013 tỷ trọng chi thường xuyên giảm xuống còn 68,23%. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là chi thường xuyên đã lớn hơn mức thu từ thuế và phí.

Do chi thường xuyên tăng cao nên tỉ trọng chi đầu tư từ NSNN giảm dần, từ 30,2% năm 2003 xuống còn 25,5% trong năm 2010,  22,0% trong năm 2011 và chỉ còn 21,4% năm 2013. Tỉ trọng chi đầu tư trong ngân sách suy giảm mạnh cho thấy một cơ cấu chi thiếu tích cực khi phần lớn các khoản chi ngân sách không phục vụ cho mục tiêu đầu tư hỗ trợ tăng trưởngmà tập trung vào chi thường xuyên. Điều này phần nào cho thấy sự cồng kềnh và chi tiêu tốn kém của bộ máy công quyền.

Thứ ba, hiệu quả chi đầu tư của khu vực công kém hơn khu vực tư, đồng thời hiệu quả đầu tư của Việt Nam kém hơn các nước trong khu vực.  Hệ số ICOR[2] của Việt Nam đã tăng từ mức bình quân 6,18% trong giai đoạn 1996-2000 lên 7,04% trong các năm 2001-2005, sau đó giảm trở lại còn 6,18% giai đoạn 2006-2010. Tính trong cùng giai đoạn xây dựng nền tảng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở mỗi nước, hệ số ICOR của Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực (Bảng 1).

Bảng 1. Hệ số ICOR của các nước trong giai đoạn công nghiệp hoá đất nước

Nước

Giai đoạn

Tốc độ tăng GDP

Tỷ lệ đầu tư/GDP

Hệ số ICOR

Hàn Quốc

1961-1980

7,9

23,3

3

Malayxia

1981-1995

7,2

32,9

4,6

Trung Quốc

2001-2006

9,7

38,8

4

Thái Lan

1981-1995

8,1

33,3

4,1

Việt Nam

1996-2009

7,2

40,2

5,6

Nguồn:  Báo cáo của Chính phủ (tháng 8/2013).

Hơn thế, ICOR của khu vực kinh tế nhà nước thậm chí còn cao hơn nhiều so với các khu vực khác, phản ánh hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam còn tương đối thấp và tính chất đặc thù của hoạt động đầu tư công

Tuy nhiên, việc sử dụng ICOR để đánh giá hiệu quả đầu tư công ở Viêt Nam chưa thật chính xác, bởi lẽ vốn đầu tư được sử dụng để đền bù và giải phóng mặt bằng rất lớn, cá biệt có dự án lên tới 50-60%, trong khi đó theo thông lệ các nước, vốn đầu tư chỉ tính vốn tích lũy đầu tư.

Song nếu sử dụng mô hình vec-tơ sai số hiệu chỉnh (VECM-Vector Error Correction Model)  nhằm đánh giá tương tác giữa các biến số kinh tế theo thời gian để tính toán, các chuyên gia cũng chỉ ra hiệu quả của đầu tư tư nhân cao hơn so với đầu tư công. Cụ thể, đầu tư tư nhân tăng 1% có thể làm sản lượng tăng 0,33%, trong khi đầu tư công tăng 1% chỉđóng góp 0,23% tăng sản lượng trong cân bằng dài hạn.

Thứ tư, bội chi NS cao dẫn đến nợ công ngày càng gia tăng. Nhìn chung, thâm hụt ngân sách có xu hướng gia tăng. Thâm hụt ngân sách, không bao gồm chi trả nợ gốc, của Việt Nam trung bình trong giai đoạn 2003-2007 chỉ là 1,3% GDP, nhưng con số này đã tăng hơn gấp đôi lên 2,7% GDP trong giai đoạn 2008-2012.

Thứ năm, sự gia tăng chi tiêu công bắt đầu có tác động bất lợi đến nền kinh tế.

Tốc độ gia tăng chi tiêu công và tốc độ tăng trưởng GDP cho thấy từ năm 2001-2007, tăng trưởng diễn ra thuận chiều với chi tiêu công. Trong giai đoạn này, chi tiêu công có tác động tích cực đến tăng trưởng. Tuy nhiên, từ năm 2007-2012, mối quan hệ này đã đảo chiều, chi tiêu công bắt đầu có tác động tiêu cực đến sự tăng trưởng kinh tế, kéo theo sự gia tăng lạm phát và nợ Chính phủ.

Một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, chi tiêu của Chính phủ một khi đã vượt quá ngưỡng nào đó sẽ cản trở tăng trưởng kinh tế do nó gây ra sự phân bổ nguồn lực một cách không hiệu quả, tham nhũng thất thoát và chèn ép khu vực tư nhân. Dựa trên những phân tích thực nghiệm, các nhà kinh tế thống nhất với nhau rằng quy mô chi tiêu công tối ưu đối với các nền kinh tế đang phát triển nằm trong khoảng từ 15-25% GDP.

Các hạn chế nói trên được nhìn nhận là từ những nguyên nhân cơ bản sau đây:

1. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào tăng yếu tố đầu vào, nhất là vốn và lao động. Xu hướng này càng rõ hơn trong thập niên 2000, khi mô hình tăng trưởng chú trọng tăng trưởng cao dựa trên đầu tư (đặcbiệt là đầu tư công) và tín dụng. Ngược lại, vai trò của tăng năng suấtlao động và tăng năng suất nhân tố tổng hợp đối với tăng trưởng kinh tế mờ nhạt hơn rất nhiều. Hệ số ICOR cao của nền kinh tế và đặc biệt của khu vực nhà nước thể hiện rõ nét sự tăng trưởng chủ yếu dựa trên yếu tố vốn, làm cho ngân sách nhà nước vốn đã hạn hẹp lại càng khó khăn hơn. Sự tác động yếu kém của khoa học và công nghệ đến năng suất nhân tố tổng hợp cho thấy nền kinh tế Việt Nam rất có thể sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình nếu không có những cải cách về cơ bản.

2. Quản lý chi tiêu công còn nhiều bất cập, tạo cơ hội cho sự thất thoát, lãng phí lớn nguồn NSNN. Hệ thống thể chế quản lý chi tiêu công ngày càng bộc lộ rõ những điểm không phù hợp. Chẳng hạn, việc phân bổ chi tiêu công vẫn dàn trải, phân tán, phân bổ chủ yếu dựa trên yếu tố đầu vào. Định mức phân bổ chi thường xuyên cho các lĩnh vực đều được tính trên đầu dân số, mặc dù có sự ưu tiên hơn cho miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Định mức phân bổ chi đầu tư phát triển cho các địa phương được tính toán dựa trên nhiều thông số khác nhau,  song chủ yếu vấn dựa trên yếu tố đầu vào như dân số, diện tích, số đơn vị hành chính cấp huyện, tỷ lệ hộ nghèo…Định mức chi thường xuyên không phù hợp với thực tế giá cả trên thị trường, dẫn đến chỗ các các chứng từ chi tiêu chỉ mang tính hình thức, chứa đựng các nguy cơ sử dụng kinh phí kém hiệu quả, thất thoát, lãng phí không kiểm soát nổi.

3. Không tính toán hết hiệu quả hoạt động và nợ của các DNNN. Trong một thời gian dài, kinh tế nhà nước được coi là đóng vai trò chủ đạo và chi phối hầu như toàn bộ các lĩnh vực của nền kinh tế. Năm 2000 các DNNN chiếm gần 68% vốn, 55% tài sản cố định (trong đó có đất đai), 45% tín dụng ngân hàng và 59% việc làm trong khu vực doanh nghiệp. Quá trình sắp xếp lại và cổ phần hoá các DNNN được triển khai khá mạnh trong những năm qua, giảm số lượng DNNN từ 12.000 DN năm 1991 xuống còn 1.200 vào năm 2010, các chỉ số trên tương ứng còn 39%, 45%, 27% và 19%. Song đến nay, DNNN vẫn là lực lượng kinh tế to lớn trong nền kinh tế.

Đặc biệt, việc hình thành các tập đoàn kinh tế nhà nước với các đặc quyền về quyền tự quản, với sự hỗ trợ và ưu đãi của Nhà nước về đất đai, vốn, …, song các tập đoàn này vẫn rất khó khăn để cạnh tranh về hiệu quả với các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Tính kém hiệu quả của các DNNN có xu hướng tăng lên. Nếu vào năm 2000,  tỷ lệ bình quân vốn trên nhân công của các DNNN là 0,4 tỷ VND so với 0,3 tỷ đồng của toàn bộ khu vực DN, thì đến năm 2008, tỷ lệ này tương ứng là 1,5 tỷ VND và 0,8 tỷ VND (gấp gần 2 lần). Tuy nhiên, tỷ lệ doanh thu ròng trên vốn của DNNN lại chỉ bằng một nửa so với toàn bộ khu vực doanh nghiệp.

Điều đáng lưu ý là các DNNN nắm giữ một khoản nợ công đáng kể. Theo số liệu do Bộ Tài chính công bố, nợ của các DNNN chỉ chiếm … nợ công. Song trên thực tế, cách tính nợ công của Việt Nam chỉ đưa vào nợ công các khoản nợ của DNNN mà Chính phủ đứng ra cam kết bảo lãnh thanh toán, trong khi đó, theo định nghĩa nợ công của WB và IMF, nợ của các DNNN mà trên 50% sở hữu thuộc về nhà nước đương nhiên được tính vào nợ công.

4.Thiếu cơ chế kiểm tra giám sát có hiệu quả.

Việt Nam hầu như chưa có các quy định, hướng dẫn cụ thể về phương pháp liên quan đến đánh giá hiệu quả dự án đầu tư công. Chỉ có các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có thực hiện các tiêu chí và hướng dẫn đánh giá chính thức, chủ yếu do yêu cầu của phía nhà tài trợ.

Trong khi đó, với các dự án đầu tư và xây dựng trong nước, việc đánh giá (trong đó có đánh giá giữa kỳ và sau khi hoàn thành dự án) cũng thuộc thẩm quyền của đơn vị có thẩm quyền ra quyết định đầu tư. Về mặt logic, sẽ rất ít cơ quan đánh giá những dự án mà mình ra quyết định đầu tư là thiếu hiệu quả hoặc không tuân thủ đúng các quy hoạch, kế hoạch đề ra.

Kết quả là nhiều dự án cùng loại đã được phê duyệt một cách dễ dãi ở rất nhiều địa phương trong cả nước, thậm chí cả ở các địa phương lân cận nhau. Chẳng hạn, trong hơn 20 năm qua, nhiều cảng nước sâu được đầu tư từ nguồn NSNN đã được hình thành suốt dọc bờ biển phía đông của Việt Nam cho thấy một sự lãng phí lớn về đầu tư công trong điều kiện ngân sách còn eo hẹp - trong khi lẽ ra các khoản vốn này có thể được sử dụng cho các mục đích khác. Mạng lưới dày đặc khiến các cảng phải cạnh tranh gay gắt với nhau và trong bối cảnh quy mô hoạt động thương mại chưa đủ lớn, hầu hết các cảng đều có công suất sử dụng ở mức thấp.

Việc giám sát và đánh giá đầu tư công, phân cấp quản lý nhànước đối với quản lýđầu tư công chưa đi kèm với những chếtài đủmạnh nhằm bảo đảm kỷ luật thông tin phục vụ giám sát, đánh giá đầu tư.

Hơn nữa, nội dung giám sát vàđánh giá trên thực tế còn tập trung vào các khía cạnh bố trí, quản lý và sử dụng vốn của các dự án đầu tư công mà ít coi trọng các nội dung liên quan đến môi trường, xã hội, tác động lan tỏa của dự án đầu tư công.

Một số định hướng giải pháp được diễn giả nêu ra:

Thứ nhất, để nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giải pháp có tính chiến lược là phải đổimới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam, chuyểnđổi từ mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng sang mô hình tăngtrưởng chủ yếu theo chiều sâu trên cơ sở nâng cao hiệu quả kỹ thuật, hiệuquả phân bổ và tiến bộ khoa học - kỹ thuật; đồng thời tiến tới tăng trưởng bền vững. Để nhanh chóng chuyển đổi tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, việc tái cơ cấu nền kinh tế là một lựa chọn ưu tiên trong giai đoạn đầu tiên, nhờ đó, các nguồn lực của nền kinh tế  được phân bổ lại một cách hiệu quả nhất để tạo điều kiện cho đổi mới mô hình kinh tế.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả phân bổ chi tiêu công. Cải cách bộ máy hành chính theo hướng tinh gọn và hiệu quả, trên cơ sở đó giảm dần tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách nhà nước. Tập trung nguồn lực tài chính vào những ngành then chốt, mũi nhọn tạo ra sự tăng trưởng kinh tế và cung cấp các dịch vụ công cơ bản cho đại đa số. Mở rộng sự tham gia của khu vực tư vào việc cung ứng các dịch vụ công, từ đó giảm bớt gánh nặng cho ngân sách để bảo đảm cân đối ngân sách cho những nhiệm vụ mà không ai ngoài chính phủ có thể đảm đương.

Thứ ba, quản lý ngân sách theo đầu ra với tầm nhìn trung hạn. Từng bước khắc phục các bất cập quá lớn trong quản lý ngân sách theo đầu vào, dẫn đến tình trạng kê khai khống các đầu vào, lập các hóa đơn chứng từ giả mạo tràn lan …, tạo các kẽ hở cho tham nhũng như hiện nay mà không quan tâm đến kết quả đầu ra. Chuyển sang lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn, hướng đến các đầu ra, đồng thời từng bước triển khai kiểm toán hoạt động đối với các khoản chi ngân sách, tạo cơ sở cho quản lý và đánh giá hiệu quả chi tiêu công một cách khách quan.

Thứ tư, tăng cường giám sát chi tiêu công, đặc biệt là đầu tư xây dựng cơ bản. Phân định rạch ròi quyền và trách nhiệm quản lý của từng cấp, nâng cao năng lực của cácđịa phương trong việc lựa chọn và ra quyết định đầu tư. Tăng cường vai trò của trung ương trong việc giám sát quyết định đầu tư của các địa phương để tránh tình trạng các địa phương lập dựán tràn lan để giữ chỗ và xin ngân sách trung ương. Việc phê duyệt cần đảm bảo một số tiêu chí cần thiết, trong đó có tính thiết thực với sự phát triển của địa phương và không phá vỡ các quy hoạch tổng thể khác.

Thứ năm, tái cơ cấu và cổ phần hoá các DNNN, thực sự chuyển các tập đoàn kinh tế và các DNNN sang tự hạch toán kinh, xóa bỏ những đặc quyền dành riêng cho các DNNN đối với các yếu tố đầu vào và kiến tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các thành phần kinh tế. Định giá đất đai theo giá thị trường đối với tất cả các giao dịch giữa Nhà nước với các DNNN. Ứng dụng quản trị doanh nghiệp hiện đại đối với các doanh nghiệp này để tách sở hữu nhà nước với quản lý doanh nghiệp, từ đó giảm bớt những hệ lụy do hoạt động kém hiệu quả và nợ công của các doanh nghiệp này đối với nhà nước.

Thứ sáu, thực hiện công khai minh bạch trong quản lý và sử dụng ngân sách. Công khai minh bạch là tiền đề quan trọng để cải cách quản lý chi tiêu công. Tình trạng thông tin thiếu minh bạch dẫn đến những hệ lụy đáng kể. Nghiên cứu từ cơ sở dữ liệu chỉ ra rằng sự thiếu minh bạch là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra tham nhũng ở Việt Nam, cho thấy các tỉnh có mức độ minh bạch thấp hơn thì tương ứng có mức độ tham nhũng cao hơn. Minh bạch về tài khoá sẽ góp phần bảo đảm kỷ luật tài chính, cải thiện công tác quản lý và phân tích tài chính, cho phép đánh giá đầy đủ hơn các rủi ro tài chính và từ đó có các giải pháp ngăn chặn kịp thời các rủi ro này, đồng thời cải thiện năng lực quản lý tài chính của Nhà nước.


[1] . Theo Báo cáo của Thủ tướng Chính phủ tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội XIII, con số này là 26,2%

[2] .  Là một chỉ số cho biết muốn có thêm một đơn vị sản lượng trong một thời kỳ nhất định cần phải bỏ ra thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư trong kỳ đó. Đây là tập hợp các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh Incremental Capital - Output Ratio. Trong tiếng Việt, ICOR còn được gọi là hệ số sử dụng vốn, hay hệ số đầu tư tăng trưởng, hay tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng thêm, v.v...

Lã Anh ghi lại
[7844]
Thách thức của Chính phủ Việt Nam trong quản lý chi tiêu côngHiện nợ công của Việt Nam đến cuối năm 2013 ở mức 54,2% GDP, dự kiến đến hết năm 2014, nợ công bằng 60,3% GDP. Năm 2014, dự kiến tỷ lệ trả nợ trực tiếp của Chính phủ chiếm khoảng 14,2% tổng thu ngân sách (theo quy định của Chiến lược nợ công là không quá 25%),
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
TIN MỚI NHẤT
Sửa đổi, bổ sung quy trình công tác cán bộ: Bảo đảm chặt chẽ, thực chất hơn
Mít tinh kỷ niệm 41 năm ngày Quốc khánh nước CHDCND Lào
Nét mới thi nâng ngạch cán bộ, công chức cơ quan đảng, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
Các tin khác
Tin hoạt động Tổ chức nhà nước
(02/12/2016 02:12)
Mít tinh kỷ niệm 41 năm ngày Quốc khánh nước CHDCND Lào
Sáng nay 02/12/2016, tại Hà Nội, Học viện Hành chính quốc gia - Bộ Nội vụ đã tổ chức mít tinh chào mừng kỷ niệm 41 năm ngày  ...
Tin mới nhất

Khẩn trương ban hành quy định về bổ nhiệm lãnh đạo của đơn vị thuộc cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh

Hà Nội giảm 189 phòng, ban, đơn vị sự nghiệp

Kết quả công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016

Nhà nước Việt Nam vì quyền con người và quyền dân tộc tự quyết

Không ‘chúc Tết, phong bì’: Thêm một thông điệp về Chính phủ liêm chính

Các chỉ số đánh giá hiệu quả cung ứng dịch vụ hành chính công ở nước ta hiện nay

Đà Nẵng: 100% phường, xã tiếp nhận liên thông văn bản điện tử

Tin xem nhiều
Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Tuấn
Trụ sở tòa soạn: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0804 6422, 0804 6543; Fax: 0804 6621 - Email: Tapchitcnn@moha.gov.vn
Bản quyền thuộc Tạp chí Tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ
Giấy phép xuất bản: Số 407/GP-BTTT ngày 27/9/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

®Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước là cơ quan báo chí của Bộ Nội vụ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.