26/08/2013 05:14
Quan niệm Hồ Chí Minh về phong cách công vụ của người cán bộ

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ nói chung bao gồm một hệ thống các quan điểm có tính chất tổng kết lý luận, thực tiễn sâu sắc và đạt đến chiều sâu triết lý, tiếp tục soi đường cho việc đổi mới toàn diện công tác cán bộ, phong cách công vụ ở nước ta trong điều kiện hiện nay.

 1. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, vấn đề phong cách công vụ được Người rất coi trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "cán bộ là cái gốc của mọi công viêc", công việc thành công hay thất bại, không chỉ phụ thuộc vào phẩm chất và năng lực của cán bộ mà còn phụ thuộc vào phong cách công tác: cách làm việc, cách quản lý, cách lãnh đạo khoa học. 

Năm 1927, trong tác phẩm Đường Kách mệnh, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra những yêu cầu cơ bản về phong cách công tác của người cán bộ cách mạng. Đó là các vấn đề, như: "hay hỏi"; "nhẫn nại” (chịu khó); "hay nghiên cứu, xem xét"; "nói thì phải làm"; "có lòng bày vẽ cho người"; "quyết đoán"; "phục tùng đoàn thể"; “xem xét hoàn cảnh kỹ càng”... 
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trước yêu cầu của sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài nói, bài viết về phong cách người công bộc trung thành, tận tụy của nhân dân, như: Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (17/9/1945), Chính phủ là công bộc của dân (19/9/1945), Muốn thành cán bộ tốt, phải có tinh thần tự chỉ trích (26/9/1945), Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các ủy ban nhân dân (04/10/1945), Sao cho được lòng dân? (12/10/1945), Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng  (17/10/1945)… Đặc biệt, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (10/1947), Người đã đề cập tới nhiều nội dung quan trọng về cách làm việc, cách quản lý, cách lãnh đạo khoa học mà người cán bộ cách mạng cần phải có. 
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách công vụ của người cán bộ hàm chứa nhiều nội dung, đúc kết thành các giá trị bền vững, mang tính triết lý sâu sắc, tạo thành nội dung quan trọng của văn hoá lãnh đạo, quản lý. Sau đây là những nội dung chủ yếu.
Một là, phong cách dân chủ.
Phong cách dân chủ, hay "cách làm việc dân chủ" là nội dung quan trọng hàng đầu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách công tác. Cơ sở của phong cách dân chủ là tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, biết lắng nghe ý kiến của dân, quan hệ tốt với dân, học hỏi dân. Người nói: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”, người lãnh đạo chỉ là "đầy tớ của dân", thay mặt nhân dân thực hiện công tác quản lý, nên phải phát huy quyền làm chủ của dân. 
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở mỗi cán bộ phải luôn thấy được vai trò, sức mạnh của dân và “chúng ta phải biết rằng, lực lượng của dân chúng nhiều vô cùng”; “trên thế giới này không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”; "Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong"; "Dễ mười lần không dân cũng chịu; khó vạn lần dân liệu cũng xong". Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ phải “Từ nơi quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng”.
Tác phong dân chủ của cán bộ không chỉ được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định trong quan hệ giữa cán bộ, đảng viên với nhân dân, mà còn trong quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa lãnh đạo với cán bộ, đảng viên bình thường. Đối với người cán bộ ở cương vị lãnh đạo, hiểu dân và hiểu cấp dưới đều có tầm quan trọng như nhau. Hiểu dân là để hiểu cấp dưới được chính xác hơn, hiểu cấp dưới là để hiểu dân đầy đủ hơn. Càng gần dân, hiểu dân và hiểu cấp dưới, người cán bộ lãnh đạo càng hiểu chính mình, có thêm điều kiện để hoàn thiện các chủ trương, chính sách và có được phương pháp công tác hữu hiệu. 
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định, trong chế độ ta “dân là chủ” và khi dân là chủ thì cách lãnh đạo phải dân chủ. Người nói: không một người nào có thể hiểu được mọi thứ, làm hết được mọi việc. Ngay đến anh hùng, lãnh tụ cũng vậy. Đem so với công việc của cả loài người trên thế giới, thì những người đại anh hùng xưa nay cũng chẳng qua làm tròn một bộ phận mà thôi. Do vậy, Người yêu cầu mỗi cán bộ phải biết cách tập hợp được tài năng, trí tuệ của nhiều người, của tập thể để phấn đấu cho mục tiêu chung. Mà muốn làm được như vậy phải tạo ra được một không khí dân chủ thực sự trong nội bộ. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh,  thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi vấn đề. Người viết: “dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự sửa chữa được nhiều(1).
Với cán bộ lãnh đạo, Người chỉ rõ: “cán bộ lãnh đạo muốn biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của mình tốt hay xấu, không gì bằng khuyên cán bộ mình mạnh bạo đề ra ý kiến và phê bình. Như thế chẳng những không phạm gì đến uy tín của người lãnh đạo mà lại tỏ ra dân chủ thật thà trong Đảng.
Nếu cán bộ không nói năng, không đề ra ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng xấu. Vì không phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ trở nên âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức, không dám nói ra, do uất ức mà hoá ra oán ghét, chán nản”(2).
Từ chỗ tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân. Người nói: "Nhiệm vụ của chính quyền và đoàn thể ta là phụng sự nhân dân. Nghĩa là làm đầy tớ cho dân… Đã phụng sự nhân dân, thì phải phụng sự cho ra trò. Nghĩa là việc gì có lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh"(3). Người cán bộ muốn có phong cách dân chủ thì phải thấm nhuần quan điểm đó.
Tuy nhiên, phong cách dân chủ không có nghĩa là mạnh ai nấy làm mà phải tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc "tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách" hay còn gọi là nguyên tắc "dân chủ tập trung". Người phân tích: phải tập thể lãnh đạo vì một người có khôn ngoan tài giỏi đến mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến mấy cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hay nhiều mặt của một vấn đề. Vậy nên phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm, người thì thấy rõ mặt này, người thì thấy rõ mặt khác của vấn đề đó. Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người thì vấn đề được thấy rõ mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt, thì vấn đề ấy mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm. Có thể nói, tập thể lãnh đạo là phương pháp đảm bảo dân chủ nhất, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng bao biện, độc đoán, chủ quan. 
"Tập thể lãnh đạo" phải gắn với "cá nhân phụ trách". Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì phải giao cho một người, hay một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy. Nếu không "sẽ dẫn đến cái tệ người này ủy lại cho người kia, người kia ủy cho người nọ, sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ". Cá nhân phụ trách sẽ đảm bảo được tính tập trung, khai thác được tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ trước những quyết định mình đưa ra.
Đối lập với phong cách dân chủ là phong cách quan liêu. Chủ tịch Hồ Chí Minh kịch liệt phê phán những cán bộ quan liêu, những người “miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng” nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ”(4).
Người chỉ rõ, quan liêu là những cán bộ phụ trách, bất kỳ cấp nào không gần gũi cấp dưới để hiểu khả năng, tính nết của người dưới quyền mình; không theo dõi sát sao công việc để có ý kiến chỉ đạo kịp thời. Nguyên nhân của căn bệnh quan liêu là xa nhân dân, khinh nhân dân, sợ nhân dân, không tin cậy nhân dân, không hiểu biết nhân dân, không yêu thương nhân dân. Người nói: "những người và cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững”. Hậu quả là làm cho "cấp trên cấp dưới cách biệt nhau"; cấp trên thì không nắm được thực chất của vấn đề, cấp dưới thì uất ức, chán nản, dẫn đến hỏng việc. Tai hại hơn, bệnh quan liêu ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí.
Để chữa căn bệnh quan liêu, Người khuyên cán bộ phải “Theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là: 
- Đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết;
- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;
- Việc gì cũng bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;
- Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; 
- Sẵn sàng học hỏi nhân dân;
- Tự mình phải làm gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính để nhân dân noi theo”(5).
Hai là, phong cách khoa học. 
Phong cách khoa học, hay còn gọi là “cách làm việc có khoa học” cũng là vấn đề được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý. Người thường xuyên nhắc nhở, yêu cầu cán bộ phải tự rèn luyện để có được phong cách này. Phong cách khoa học đòi hỏi phải được thể hiện từ lúc ra quyết định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện quyết định.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, để có quyết định đúng, người cán bộ phải hiểu rõ tình hình công việc, hiểu rõ tình hình cấp dưới. Bởi vì, có hiểu rõ tình hình thì mới đưa ra được quyết định đúng đắn. Nếu không sẽ dẫn đến tình trạng "nồi vuông úp vung tròn" tức hỏng việc. Muốn nắm vững tình hình, người cán bộ phải sâu sát, điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng, "phải cụ thể, phải kịp thời, phải thiết thực"; phải “chân đi, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm, óc nghĩ”; phải có tầm nhìn toàn cục, lại không được bỏ qua các tiểu tiết, bộ phận; “phải cẩn thận mà nhanh nhẹn, kịp thời”, phải khách quan và sáng suốt, không để "bọn vu vơ bao vây". 
Sau khi đã điều tra đầy đủ, nắm chắc tình hình, phải nghiên cứu sắp xếp các ý kiến cho có hệ thống và sáng suốt ra quyết định mà trước hết là phải hiểu thấu vấn đề, biết cách phân tích và so sánh. Người nói: "So đi sánh lại, phân tích rõ ràng là cách làm việc có khoa học". Người lưu ý cán bộ phải học hỏi phương pháp so sánh của quần chúng: "Họ so sánh bây giờ và họ so sánh với thời kỳ đã qua. Họ so sánh từng việc và họ so sánh toàn bộ phận. Do sự so sánh, họ thấy chỗ khác nhau, họ thấy mối mâu thuẫn. Rồi lại do đó, họ kết luận, họ đề ra cách giải quyết"(6).
Phong cách khoa học đòi hỏi người cán bộ làm việc gì cũng phải có kế hoạch và có mục đích. Người nói: "Đích nghĩa là nhằm vào đó mà bắn. Nhiều đích quá thì loạn mắt, không bắn trúng đích nào"(7). Đồng thời, phê phán những cán bộ vạch ra "chương trình công tác thì quá rộng rãi mà kém thiết thực". Để vạch kế hoạch một cách thực sự khoa học, người cán bộ phải "xét kỹ hoàn cảnh mà xếp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp"(8). Một việc chính có thể có nhiều cách thực hiện. Người yêu cầu cán bộ: chủ trương một, biện pháp mười, quyết tâm phải hai, ba mươi. Nói quyết tâm phải hai, ba mươi, tức là sau khi đã có kế hoạch công tác phải có quyết tâm thực hiện và phải thực hiện đến nơi đến chốn, không được đánh trống bỏ dùi. Người đã nhiều lần phê bình bệnh hữu danh vô thực ở không ít cán bộ “làm việc không thiết thực... Làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch... Thế là dối trá với Đảng, có tội với Đảng. Làm việc không thiết thực, báo cáo không thật thà cũng là một bệnh rất nguy hiểm”(9).
 Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyên cán bộ, trong bất kỳ công việc gì cũng phải bắt đầu từ chỗ chính, "từ gốc, dần dần đến ngọn, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, chớ nên tham mau, tham nhiều trong một lúc"(10); phải hiểu năng lực của cấp dưới mà bố trí, sử dụng người cho đúng, chớ "dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn". Khi giao công việc cho cấp dưới phải rõ ràng đầy đủ, phải dự báo được những tình huống có thể xảy ra cho cấp dưới và phải thường xuyên kiểm tra đôn đốc việc thực hiện của cấp dưới. Lênin cũng chỉ ra rằng, lãnh đạo mà không kiểm tra có nghĩa là không lãnh đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng phê bình tình trạng “cán bộ lãnh đạo chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị, sau đó thì họ không biết gì đến những nghị quyết đó đã thực hành đến đâu, có những sự khó khăn trở ngại gì, dân chúng có ra sức tham gia hay không. Họ quên mất kiểm tra. Đó là một sai lầm rất to lớn. Vì thế nên có cán bộ “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc vẫn không chạy”(11).
Việc kiểm tra ngoài tự thân người quản lý cần có sự giúp đỡ của quần chúng. Bởi vì “người lãnh đạo chỉ thấy một mặt của công việc, của sự thay đổi của mọi người, trông từ trên xuống”, còn “dân chúng thì trông thấy mặt khác của công việc, trông từ dưới lên”. Sự kiểm tra như vậy mới có hiệu quả.
Phong cách khoa học còn đòi hỏi người cán bộ sau mỗi việc cần rút kinh nghiệm tận gốc, rồi phổ biến những kinh nghiệm ấy cho tất cả cán bộ và dân chúng hiểu. Mỗi cán bộ phải học hỏi những kinh nghiệm hay, tránh những kinh nghiệm dở, áp dụng những kinh nghiệm cũ vào những công việc mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán lối làm việc “không biết nghiên cứu đến nơi đến chốn... để mà học hỏi kinh nghiệm, để mà đặt ra khuôn phép cho công việc khác. Thành thử, những cái tốt hay đều không phát triển được. Và công việc xong rồi là thôi, cán bộ không học được kinh nghiệm gì, mà cũng không tiến bộ được mấy”(12). Người khuyên “công việc gì bất cứ thành công hay thất bại chúng ta cần phải nghiên cứu đến tận cội rễ, phân tích thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái chìa khoá phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”(13).
Ba là, sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, lời nói đi đôi với việc làm,“nói là phải làm”.
Là cán bộ, dứt khoát phải có lý luận. Dẫn lời của Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng. Chính vì vậy, Người rất quan tâm tới việc giáo dục lý luận cho cán bộ. Nhấn mạnh vai trò của lý luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế"(14). Và nguyên nhân của căn bệnh chủ quan, duy ý chí ở một số cán bộ là do "kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận xuông". Với những người đó, "Vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại"(15). Do đó, mỗi cán bộ cần không ngừng trau dồi lý luận, gắn học tập nghiên cứu lý luận với công việc thực tế của mình. Người nói, "Lý luận như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên".
Sức thuyết phục, sự lôi cuốn của cán bộ với cấp dưới, với quần chúng nhân dân còn ở phong cách lời nói đi đôi với việc làm, "nói là phải làm". Đó không chỉ là một chuẩn mực hành vi đạo đức truyền thống của dân tộc ta mà còn là một nguyên tắc cơ bản của học thuyết Mác, lý luận gắn liền với thực tiễn, được Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng. Người cán bộ muốn tập hợp, tuyên truyền cấp dưới, tự mình phải “miệng nói tay làm, làm gương cho người khác”. Người dạy: đối với người phương Đông giàu tình cảm thì một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Với những cán bộ “miệng thì tuyên truyền bảo người ta siêng làm mà tự mình thì ăn trưa ngủ trễ, bảo người ta tiết kiệm mà tự mình thì xa xỉ, lung tung, thì tuyên truyền hàng trăm năm cũng vô ích”(16). Đó là những cán bộ hỏng. Còn với những cán bộ chỉ biết nói suông, "Chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác, nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”, những người như thế tuy là thật thà, trung thành nhưng không có năng lực, vì vậy, không thể dùng những người đó vào công việc thực tế.
Nói đi đôi với làm là phong cách công tác hữu hiệu của người cán bộ cách mạng. Nó hoàn toàn khác với thói đạo đức giả nói một đằng, làm một nẻo, thậm chí nói mà không làm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ ra, “bọn phong kiến ngày xưa nêu cần, kiệm, liêm, chính nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính thì cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước, cho dân”(17). Nói đi đôi với làm vừa là phong cách công tác, vừa là phương pháp tư tưởng hữu hiệu của người cán bộ cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý, đối với nhân dân không thể lý luận suông, chính trị suông, nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực từ những tấm gương sáng, những việc làm thiết thực của cán bộ. 
3. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ có đầy đủ phẩm chất và năng lực, có phương pháp làm việc khoa học, đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý mới. Những năm qua, Đảng ta đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết về đổi mới công tác cán bộ, như Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII (tháng 6/1992); Nghị quyết Trung ương 3 (tháng 6/1997) và Nghị quyết Trung ương 7 khóa VIII (tháng 8/1999); Nghị quyết Trung ương 6 khóa IX (tháng 6/2002); Nghị quyết Trung ương 3 khóa X (tháng 8/2006)… Thực hiện chủ trương của Đảng, nhiều cán bộ đã nỗ lực phấn đấu để đạt được trình độ chuyên môn cao, phong cách làm việc khoa học, biết nêu cao dân chủ, lắng nghe và phát huy sức mạnh của quần chúng, nêu cao đạo đức cách mạng, chỉ đạo và thực hiện công việc có hiệu quả, tạo được niềm tin cho quần chúng. Song, vẫn còn không ít cán bộ ở một số ngành, lĩnh vực có những biểu hiện sa sút về phẩm chất, mất dân chủ hoặc lợi dụng chức quyền để tham ô, tham nhũng dưới nhiều hình thức hoặc vô trách nhiệm, làm lãng phí, thất thoát công quỹ của Nhà nước và nhân dân, gây tác hại rất lớn về chính trị, kinh tế, làm giảm uy tín, sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực,  hiệu quả quản lý của Nhà nước và gây bất bình trong xã hội.
Đánh giá tình hình công tác cán bộ, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX nhận định: “Chúng ta đang đứng trước mâu thuẫn cần giải quyết. Đó là mâu thuẫn giữa yêu cầu cao về mọi mặt của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ còn hạn chế, trong khi khả năng đào tạo lại có hạn”(18). Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đề ra mục tiêu: “phải xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức, kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”(19). Để đạt được mục tiêu trên, cùng với sự nỗ lực chung của Đảng và Nhà nước, mỗi cán bộ cần tự mình phấn đấu học hỏi để nâng cao trình độ, năng lực và đổi mới lề lối làm việc, phải thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, về phong cách công tác. Những tư tưởng đó là kết tinh của tinh hoa về khoa học quản lý của nhân loại, được Người vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam.

Ghi chú:
(1), (2), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14), (15), (16) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr.244; tr.280; tr.295-296; tr.374; tr.292; tr.256-257;             ; tr.520-521; tr.242; tr.243; tr.233; tr.234; tr.108.
(3), (4), (5), (17) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H.2000, tr.88; tr.292; tr.293; tr.321.
(18) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb CTQG, H.2002, tr.164.
(19) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.292-293.
PGS.TS. Phạm Ngọc Anh TS. Lê Văn Thịnh
[4407]
Quan niệm Hồ Chí Minh về phong cách công vụ của người cán bộ1. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, vấn đề phong cách công vụ được Người rất coi trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "cán bộ là cái gốc của mọi công viêc", công việc thành công hay thất bại, không chỉ phụ thuộc vào phẩm chất và năng lực của cán bộ mà
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
TIN MỚI NHẤT
Một số giải pháp nâng cao đạo đức công chức
Vượt qua rào cản từ nhận thức khi triển khai dịch vụ công trực tuyến mức 3 cấp xã
Một số ý kiến về việc thực hiện cơ chế “phân cấp” theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
Các tin khác
Tin hoạt động Tổ chức nhà nước
(08/12/2016 05:18)
Bế giảng lớp bồi dưỡng ngạch Chuyên viên chính khoá 35 và Chuyên viên khóa 37
Sáng 08/12/2016, tại Hà Nội, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức - Bộ Nội vụ tổ chức Lễ Bế giảng 02 lớp bồi dưỡng  ...
Tin mới nhất

Hội nghị cán bộ toàn quốc phổ biến, quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Không đơn thuần là thất thoát ngân sách

Năm 2018: 80% thủ tục xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh qua Một cửa quốc gia

Bế giảng lớp bồi dưỡng ngạch Chuyên viên chính khoá 35 và Chuyên viên khóa 37

Tổ chức lớp Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng nghiên cứu khoa học năm 2016

Bàn về thi tuyển các chức danh công chức lãnh đạo hiện nay

Kỷ cương và đồng hành

Tin xem nhiều

Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về trung thực, trách nhiệm

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ trong giai đoạn hiện nay

Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ

Đổi mới phong cách công tác của cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước hiện nay

Những giải pháp nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong Đảng

Từ lời dạy của Bác đến chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp

Quan hệ pháp luật và đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Tuấn
Trụ sở tòa soạn: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0804 6422, 0804 6543; Fax: 0804 6621 - Email: Tapchitcnn@moha.gov.vn
Bản quyền thuộc Tạp chí Tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ
Giấy phép xuất bản: Số 407/GP-BTTT ngày 27/9/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

®Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước là cơ quan báo chí của Bộ Nội vụ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.