27/07/2018 01:32
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thương binh, liệt sĩ

1. Quan niệm Hồ Chí Minh về sự cần thiết hoạch định và thực hiện công tác thương binh, liệt sĩ

Trong cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho đất nước của nhân dân ta, biết bao chiến sĩ cộng sản, quần chúng cách mạng, yêu nước đã ngã xuống, hy sinh nơi chiến trường khốc liệt để xây dựng nên giang sơn gấm vóc hôm nay, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của liệt sĩ đã làm cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ…”(1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm gia đình có công với cách mạng ở TP Hà Nội năm 1955

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến thương binh, liệt sĩ, những người đã cống hiến xương máu, hy sinh tính mạng để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân. Dù bận trăm công nghìn việc nhưng Người vẫn luôn dành thời gian để quan tâm, thăm hỏi, động viên các thương binh, gia đình liệt sĩ. Nội dung tư tưởng, những tình cảm thiêng liêng Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho thương binh, liệt sĩ được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt, cụ thể, thiết thực trong rất nhiều bài nói, bài viết, hành động và việc làm của Người.

Ngay từ những ngày đầu nước nhà mới giành được độc lập, Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm đến công tác chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ. Truyền thống “uống nước nhớ nguồn” đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, lãnh đạo nhân dân ta dành tình thương yêu cho thương binh, gia đình liệt sĩ, những gia đình có công với Tổ quốc và cách mạng.

2. Quan niệm về bản chất của công tác thương binh, liệt sĩ

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác thương binh, liệt sĩ là một hình thức xây dựng tượng đài kỷ niệm trong lòng dân chúng, các thế hệ kế tiếp, ghi nhớ công ơn, chiến công của những con người ưu tú đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc và cuộc sống bình yên của nhân dân. Đây là tư tưởng nhất quán, thể hiện rất rõ trong các bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh viết nhân dịp ngày Thương binh, liệt sĩ 27/7. Trong thư đầu tiên, Người nhấn mạnh: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe dọa. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta. Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh.

Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt.

Vì vậy Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”(2).

Từ những rung động sâu sắc tận đáy lòng, thương tiếc và trân trọng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi đến một quan niệm khái quát về thương binh, liệt sĩ. Đó là những người “quyết hy sinh tính mệnh họ, để giữ gìn tính mệnh của đồng bào. Họ hy sinh gia đình và tài sản của họ, để bảo vệ gia đình và tài sản của đồng bào.

Họ quyết liều chết chống địch, để cho Tổ quốc và đồng bào sống.

Họ là những chiến sĩ anh dũng của ta.

Trong đó, có người đã bỏ lại một phần thân thể ở trước mặt trận. Có người đã bỏ mình ở chiến trường. Đó là những thương binh, đó là tử sĩ”(3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá chính xác ý nghĩa và giá trị của sự hy sinh vì độc lập, tự do của các chiến sĩ. Người đã nâng công tác thương binh, liệt sĩ lên ngang tầm một hoạt động văn hóa, với quy mô toàn xã hội, phát huy truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”, “ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc Việt Nam.

Đặc trưng nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thương binh, liệt sĩ là chủ nghĩa nhân văn mà cốt lõi là lòng thương người. Ở Hồ Chí Minh, lòng thương người phát triển với mức độ cao, đồng nghĩa với việc thực hiện các quyền cơ bản về sự phát triển toàn diện của con người. Từ lòng yêu thương những người nghèo khổ ở quê hương, những người đi phu làm đường Cửa Rào (Nghệ An) bị đánh đập, đói khát, đồng bào bị áp bức, bóc lột, Nguyễn Ái Quốc mở rộng đến sự thông cảm, yêu thương tất cả nhân dân lao động trên thế giới, kính trọng những người dũng cảm hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Người đã khóc khi nghe tin Thị trưởng Coóc - một nhà yêu nước Aixơlen bị bắt cầm tù đã tuyệt thực đến chết và nghĩ đến tấm gương hy sinh của nhà yêu nước Việt Nam Tống Duy Tân “thà chết không đầu hàng”. Từ đó, Người đi đến nhận thức rằng: cái chết của họ làm cho Tổ quốc họ sống lại, lòng can đảm của họ bất diệt.

Lòng thương người của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện ở sự đồng cảm với những người thân trong gia đình bị mất con, em vì hy sinh cho Tổ quốc, song rất đỗi tự hào vì được “Tổ quốc ghi công”. Thật vô cùng xúc động và cảm kích khi đọc thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi bác sĩ Phạm Đình Tụng, khi được tin con trai ông hy sinh: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột.

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam”(4).

Lòng thương người gắn với lòng kính yêu thương binh, liệt sĩ quyện chặt vào nhau, nâng cao ý thức giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng của đất nước, dân tộc. Không phải sự mất mát nào cũng làm chúng ta kính trọng, học tập, dù có thương cảm, mủi lòng, ngoại trừ sự hy sinh cho đất nước, làm cho cuộc sống hiện tại và tương lai mãi mãi tồn tại và phát triển. Đó là những cái chết làm nên sự sống và trở thành bất tử. Tình cảm thân thiết, nghĩa đồng chí được cô đọng, thể hiện trong “Bài điếu đồng chí Hồ Tùng Mậu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 01/8/1951: “Tôi với chú là đồng chí, lại là thân thiết hơn anh em ruột. Khi hoạt động ở đất khách quê người, khi bị giam ở lao tù đế quốc, khi đấu tranh ở nước nhà, hơn 25 năm, đã bao phen chúng ta đồng cam cộng khổ, như tay với chân... Mất chú, đồng bào mất một người lãnh đạo tận tụy, Chính phủ mất một người cán bộ lão luyện, Đoàn thể mất một người đồng chí trung thành, và tôi mất một người anh em chí thiết. Mấy nguồn thương tiếc, cộng vào trong một lòng tôi!”(5). Tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thương binh, liệt sĩ không chỉ là sự tiếc thương, ngậm ngùi, đau xót và tự hào, mà còn gợi lên tinh thần bất khuất, làm hồi sinh sức sống mãnh liệt của cả dân tộc, của những người hy sinh, cống hiến một phần cơ thể cho đất nước, cách mạng và gia đình thương binh, liệt sĩ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho sự hy sinh, mất mát của liệt sĩ, thương binh, gia đình, dân tộc càng thêm cao đẹp hơn bằng cách gắn sự tổn thất này vào ý thức của những người còn sống về nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối với những người đã hy sinh, những mất mát của những người đã chiến đấu và gia đình họ. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho những điều vinh quang càng vinh quang, đáng tự hào hơn, trách nhiệm của những người còn sống, gia đình và nhân dân càng nặng nề hơn.       

3. Nội dung công tác thương binh, liệt sĩ

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, giúp đỡ thương binh không mang ý nghĩa nhất thời, mà về lâu dài, cơ bản và quyết định là tạo mọi điều kiện cho họ có khả năng hòa nhập tự nhiên, thích nghi với đời sống cộng đồng, có công cụ để hoạt động phù hợp với khả năng từng đối tượng, bảo đảm cuộc sống cho họ và gia đình.

Ngoài những việc làm nghĩa cử của bản thân, đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, Người nhấn mạnh: Để phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” trở thành một phong trào có sức lan tỏa sâu rộng trong thực tiễn, có hiệu quả và thiết thực, toàn Đảng, toàn dân phải vinh danh, ghi nhận công lao to lớn của thương binh, liệt sĩ và làm tốt hơn nữa công tác “Đền ơn đáp nghĩa”. Nhiều tổ chức Hội như “Hội mẹ chiến sĩ”, “Hội ủng hộ thương binh” được thành lập; nhiều phong trào như “Trần Quốc Toản”, “Đón thương binh về làng” được phát động rộng rãi, góp phần cùng Đảng, Nhà nước chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, thắt chặt thêm tình quân dân như “cá với nước”.

Trong Di chúc thiêng liêng Người đã căn dặn biết bao điều hệ trọng về công tác lao động – thương binh và xã hội: “Đầu tiên là công việc đối với con người. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào ta phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.

Đối với các liệt sĩ, thì mỗi địa phương (thành phố, làng, xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền cùng Hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”(6).

Phát huy truyền thống “uống nước nhớ nguồn” và lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến các thương binh, thân nhân gia đình liệt sĩ. Các hoạt động “đền ơn đáp nghĩa” ngày càng đi vào chiều sâu và xã hội hóa cao. Các phong trào xây dựng nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, Quỹ đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc con liệt sĩ mồ côi, đi tìm hài cốt đồng đội, tu sửa, nâng cấp các nghĩa trang, đài tưởng niệm liệt sĩ... ngày càng thu hút sự tham gia của toàn xã hội.

4. Công tác thương binh, liệt sĩ là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác thương binh, liệt sĩ là một loại chính sách xã hội đặc biệt, thu hút sự tham gia của mọi đối tượng dân cư, mọi ngành, mọi giới; không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ mà còn là tình cảm, lương tri của mỗi người, nói lên bản chất ưu việt của chế độ xã hội, nét đẹp văn hóa ứng xử, đạo lý sống của người Việt Nam. Trong các lực lượng xã hội tham gia làm công tác thương binh, liệt sĩ, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò là người khởi xướng, lãnh đạo thông qua hệ thống các chủ trương, đường lối và chính sách.

Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tích cực đi đầu thực hiện công tác thương binh, liệt sĩ. Ngay từ tháng 11/1946, Người đã ra thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi, hàng năm đều có thư thăm hỏi động viên, khuyến khích thương binh, gia đình liệt sĩ. Trong 22 năm (1947 - 1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 14 lần gửi quà nhân ngày thương binh, liệt sĩ tặng cho các thương binh và gia đình liệt sĩ. Quà tặng thường là những đồ dùng thiết yếu (quần áo, khăn mặt, vải, thuốc men, chăn...) và tiết kiệm tiền lương gửi vào qũy thương binh toàn quốc. Việc làm của Người mang ý nghĩa thiết thực, tạo thành một phong trào xã hội rộng lớn với nhiều hình thức phong phú và thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.

Hàng năm, cứ vào dịp tháng 7, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại gửi thư thăm hỏi, động viên thương binh, gia đình liệt sĩ, một mặt khẳng định công lao, đóng góp của họ, đồng thời động viên: “Các đồng chí đã anh dũng giữ gìn non sông, các đồng chí sẽ trở nên người công dân kiểu mẫu ở hậu phương, cũng như các đồng chí đã từng là chiến sĩ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận”, để mỗi “thương binh tàn nhưng không phế”(7).

Trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, khi sang thăm nước Pháp, Người đã viếng thăm và đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm chiến sĩ tử trận tại Biarit, mộ chiến sĩ vô danh tại Khải Hoàn Môn, mộ liệt sĩ bị phát xít Đức bắn trên đồi Valêriêng. Người nói “Trông thấy nghĩa sĩ Pháp vì độc lập và tự do mà bị người Đức tàn sát, lại nhớ đến nghĩa sĩ Việt cũng vì độc lập, tự do mà cũng bị người khác tàn sát, khiến cho người ta thêm nỗi cảm động ngậm ngùi”(8). Tình yêu thương, nhân ái của vị lãnh tụ kính yêu đã không bị một danh giới địa lý hay chính trị nào giới hạn mà trở thành lý tưởng chung: bình đẳng và bác ái giữa hai dân tộc Việt  - Pháp. Từ đó, Người khẳng định, dù ở đâu, bất cứ nơi nào: Độc lập - tự do đều do xương máu của các nghĩa sĩ và sự đoàn kết của toàn dân mà xây nên. Vậy nên, những người chân chính yêu chuộng độc lập, tự do của nước mình thì cũng phải kính trọng độc lập, tự do của dân tộc khác.

Ghi nhớ công lao của các liệt sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên đặt vòng hoa viếng tại Đài liệt sĩ Hà Nội vào các dịp lễ tết: “Ngày mai là năm mới... Trong lúc cả nước vui mừng, thì mọi người đều thương tiếc các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, vì dân tộc. Bác thay mặt nhân dân, Chính phủ và bộ đội kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn bất diệt của các liệt sĩ”. Không chỉ dừng lại ở đó, Người còn ký và ban hành các sắc lệnh về chế độ “Hưu bổng, thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sĩ”; thành lập sở, ty thương binh, cựu binh ở khu và tỉnh, đặt ra Bảng vàng danh dự, Bằng gia đình vẻ vang và truy tặng, phong tặng các danh hiệu anh hùng, huân chương, huy chương cho các liệt sĩ, thương binh.

      5. Một số biện pháp cụ thể thực hiện công tác thương binh, liệt sĩ

Trong mọi hoàn cảnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh: giúp thương binh lâu dài, chứ không phải chỉ giúp trong một thời gian. Không phải giúp bằng cách góp gạo nuôi thương binh, những biện pháp hỗ trợ trước mắt mà bằng cả một hệ thống giải pháp căn cơ, lâu dài, trên mọi phương diện, từ việc làm đến thu nhập, từ việc học đến đào tạo nghề, từ giúp đỡ, hỗ trợ của tập thể đến phát huy tính năng động, sáng tạo của mỗi cá nhân… Người gợi ý một số cách làm cụ thể:

- Mỗi xã trích một phần ruộng công, nếu không có ruộng công thì mượn ruộng của đồng bào hằng tâm hằng sản, nếu không mượn được ruộng thì chính quyền, đoàn thể và đồng bào trong xã chung sức phát vỡ một số đất mới để giúp thương binh.

- Chính quyền, đoàn thể và đồng bào trong xã sẽ tổ chức cày cấy, chăm nom, gặt hái những ruộng đất ấy. Hoa lợi sẽ để nuôi thương binh.

- Tùy theo số ruộng đất trích được, mượn được hoặc khai khẩn được, mà đón được nhiều hoặc ít thương binh về xã. Anh em thương binh sẽ tùy sức mà làm những công việc nhẹ, như học may vá, đan lát, hớt tóc hoặc giúp việc phòng giấy, giúp việc bình dân học vụ trong làng...

Như thế thì đồng bào mỗi xã đã được thỏa mãn lòng ước ao báo đáp anh em thương binh; mà anh em thương binh thì được yên ổn về vật chất và vui vẻ về tinh thần và vẫn có dịp tham gia sự hoạt động ích lợi cho xã hội.

Những quan điểm cơ bản và tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác thương binh, liệt sĩ đã được Đảng và Nhà nước ta vận dụng, kế thừa, phát huy và cụ thể hóa thành nhiều chương trình, chính sách giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ. Trong 70 năm qua, phong trào đền ơn đáp nghĩa, xây dựng nhà tình nghĩa, nhận nuôi dưỡng suốt đời các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, giúp thương binh, gia đình liệt sĩ, những người có công xóa đói giảm nghèo... đã diễn ra trong phạm vi cả nước, đều bắt nguồn từ bản chất tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.

PGS.TS. Phạm Ngọc Anh - Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng

----------------------------------

Ghi chú:

(1)Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H.2011, tr.401.

(2),(3),(4),(7) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H.2011, tr. 204, tr.579, tr.49, tr. 584.

(5) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.2011, tr.148.

(6) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 15, Nxb CTQG, H.2011, tr.616.

 (8) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H.2011, tr.306.

tcnn.vn
[145]
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thương binh, liệt sĩChủ tịch Hồ Chí Minh thăm gia đình có công với cách mạng ở TP Hà Nội năm 1955 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến thương binh, liệt sĩ, những người đã cống hiến xương máu, hy sinh tính mạng để bảo vệ độc lập,
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
TIN MỚI NHẤT
Hà Nội: Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm
Ninh Thuận: Lấy sự hài lòng của người dân, tổ chức làm thước đo về hiệu quả cải cách hành chính
Thủ tướng phê duyệt tổng biên chế công chức năm 2019
Các tin khác
Tin hoạt động Tổ chức nhà nước
(15/08/2018 03:31)
Bộ Nội vụ tổ chức Hội nghị chuyên đề về công tác xây dựng pháp luật
Sáng 15/8, tại trụ sở Bộ, Bộ Nội vụ tổ chức Hội nghị chuyên đề về công tác xây dựng pháp luật. Bộ trưởng Bộ Nội vụ  ...
Tin mới nhất

Lần đầu tiên công bố Báo cáo chi phí tuân thủ thủ tục hành chính

Giám sát an toàn hệ thống CNTT phục vụ Chính phủ điện tử

Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Đường bộ Việt Nam

Phú Yên: Tiếp tục nâng cao hiệu quả Cổng dịch vụ công trực tuyến

Bộ Nội vụ tổ chức Hội nghị chuyên đề về công tác xây dựng pháp luật

Tăng cường kỷ cương, siết chặt kỷ luật trong mọi hoạt động công vụ

Kết luận của Bộ Chính trị về thực hiện một số mô hình thí điểm theo Nghị quyết số 18 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII

Thông tin tuyên truyền

Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Tuấn
Trụ sở tòa soạn: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0804 6422, 0804 6543; Fax: 0804 6621 - Email: Tapchitcnn@moha.gov.vn
Bản quyền thuộc Tạp chí Tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ
Giấy phép xuất bản: Số 407/GP-BTTT ngày 27/9/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

®Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước là cơ quan báo chí của Bộ Nội vụ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.