Thực tiễn - Kinh nghiệm
Về một số kinh nghiệm cải cách hành chính tại Nhật Bản

Khi nói về nền hành chính và tiến trình cải cách hành chính tại Nhật Bản, không ít ý kiến cho rằng, những mục tiêu và kết quả cải cách hành chính đã đạt được từ sau Chiến tranh thế giới thứ Hai hết sức mờ nhạt. Xét trên phương diện nào đó, nhận xét trên đây là có cơ sở. Bởi vì, nếu nhìn rộng ra trên thế giới, kể cả ở những nước phát triển mà nước Nhật không phải một ngoại lệ, thì sự bất cập của các quá trình cải cách hành chính so vối nhịp độ phát triển chung của nền kinh tế là một thực tế. Song, trong trường hợp nước Nhật, có một đặc thù cần được lưu ý là, trong lịch sử, Nhật Bản đã từng trải qua thời kỳ cải cách hành chính nhà nước hết sức mạnh mẽ và gặt hái nhiều thành công. Những bước tiến khá dài mang tính cách mạng trong quá trình cải cách thời Minh Trị đã để lại dấu ấn đậm nét trong đời sống xã hội, đến mức mỗi khi nói đến cải cách hành chính, nhất là khi nhận định đánh giá về kết quả, mục tiêu đạt được, người ta không thể không liên hệ, so sánh. Tuy nhiên, để có thể có được sự đánh giá khách quan, cần nhìn nhận những nỗ lực cải cách hành chính trong tổng thể sự phát triển của quốc gia này, nhất là đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện nội dung, giải pháp, bước đi đã được áp dụng trên thực tế trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.

Nhân rộng mô hình “một cửa” tại Tòa án để tăng khả năng tiếp cận công lý cho người dân

Một trong những thành quả nổi bật mà Dự án phát triển tư pháp và sự tham gia của cơ sở - Dự án JUDGE (do Chính phủ Canada tài trợ, Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao thực hiện) đã đạt được là thành lập và triển khai Bộ phận hành chính tư pháp tại Tòa án theo mô hình “một cửa” ở Tòa án nhân dân ba tỉnh Hưng Yên, Thừa Thiên – Huế và Vĩnh Long. Mô hình “một cửa” đã mang lại những thay đổi tích cực trong nội bộ mỗi Tòa án thực hiện thí điểm và ấn tượng hơn cả là tăng cường khả năng tiếp cận công lý cho nhân dân, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân.

Các chú làm cho Bác xa dân!

Sách “Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử” ghi lại câu chuyện về Bác: Một ngày tháng 8/1949, thị xã Bắc Cạn mới được giải phóng (ngày 9/8/1949), trên đường đi Ngân Sơn, Bác Hồ đã nghỉ tại Nà Phạc. Lúc này, dân ở đây đi sơ tán chưa dọn về. Cán bộ huyện dựng tạm lán cho Bác ở qua đêm. Chỉ tay vào căn lán mới dựng, Bác hỏi: nhà này nhà ai? Cán bộ địa phương thưa: Cách đây năm, ba cây số mới có lán ở của dân, chúng cháu dựng tạm lán này cho Bác nghỉ chân. Bác nghiêm sắc mặt phê bình: “Thế là các chú làm cho Bác xa dân! Chỉ có năm, ba cây số, nhân dân đi lại được, sao Bác không đi được”. Anh em cán bộ địa phương lúng túng nhìn nhau trước lời trách nhẹ nhàng của Bác. Và ngay sáng sớm hôm sau, Bác yêu cầu đưa Người đi bộ vào thăm hỏi đồng bào ở nơi sơ tán. (1)

Kinh nghiệm nước ngoài trong quản lý nhà nước về công chứng

Theo báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật công chứng, việc xã hội hóa hoạt động công chứng mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực song vẫn còn tình trạng Văn phòng công chứng phát triển quá nhanh, quá nóng, không ổn định hoặc không có tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa. Hiện tượng không tuân thủ nghiêm túc về trình tự, thủ tục, thời gian, địa điểm công chứng vẫn xảy ra. Một số Văn phòng công chứng bố trí điểm tiếp nhận hồ sơ công chứng ở các địa bàn ngoài trụ sở của tổ chức, không niêm yết lịch làm việc; thu phí công chứng, thù lao công chứng cao hơn quy định, thu phí không ghi biên lai, hóa đơn hoặc thu cao hơn nhưng khi ghi hóa đơn chỉ thu bằng mức phí niêm yết…, gây ảnh hưởng lớn đến uy tín và sự phát triển lành mạnh của hoạt động công chứng. Một số công chứng viên vi phạm đạo đức nghề nghiệp, cạnh tranh không lành mạnh, cố ý làm trái, vi phạm pháp luật…

Đổi mới nhận thức về giao tiếp hành chính của cán bộ, công chức nhìn từ vai trò của nhà nước

Không thể phủ nhận, sau thời kỳ Đổi mới, nhận thức về giao tiếp công sở hành chính đã có những chuyển biến nhất định. Cải cách hành chính không thể và không phải chỉ là cải cách các thủ tục hành chính như “cửa” và “dấu” mà quan trọng nhất là sự “cải cách tư duy” phục vụ ở mỗi cán bộ công chức khi giao tiếp với dân. Chính vì vậy, Nhà nước đã ban hành rất nhiều chủ trương, chính sách nhằm cải thiện và xây dựng mối quan hệ giao tiếp hành chính dân chủ, bình đẳng, thân thiện, gắn bó giữa cán   như Quy chế công sở (Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm Quyết định số 129 /2007/QĐ -TTg ký ngày 02 tháng 8 năm 2007) hay Luật công chức có hiệu lực từ ngày 01/01/2010…, trong đó đều có những điều khoản quy định chặt chẽ về đạo đức, văn hóa giao tiếp của cán bộ công chức. Điều này thể hiện những nỗ lực của Chính phủ, đồng thời phản ánh nhu cầu chính đáng của nhân dân về một nền hành chính công trong sạch, vững mạnh.

Kinh nghiệm cải cách của Nhật Bản và việc xây dựng mô hình chính quyền địa phương ở Việt Nam

1. Kinh nghiệm cải cách của Nhật Bản

Trong suốt 100 năm qua, kể từ thời Minh Trị năm 1867, Nhật Bản đã tiến hành nhiều cuộc cải cách hệ thống chính quyền địa phương với mục đích xây dựng một hệ thống chính quyền địa phương hoạt động có hiệu lực và hiệu quả. Dưới thời Minh Trị, chính quyền địa phương được tổ chức theo mô hình tập trung quyền lực và hệ thống thứ bậc giống như mô hình của Đức và Pháp. Tuy nhiên, mô hình chính quyền Nhật Bản đã chuyển sang thời kỳ mới khi Hiến pháp năm 1946 quy định nguyên tắc “tự trị địa phương” một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Trên cơ sở đó, Luật Tự trị địa phương ban hành năm 1947, là văn bản pháp lý quan trọng quy định về tổ chức, hoạt động, chức năng và quyền hạn của các cơ quan ở địa phương. Theo quy định của Luật này, chính quyền địa phương của Nhật Bản có một số đặc điểm chính như sau: thứ nhất, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự trị địa phương. Nguyên tắc này đảm bảo quyền tự chủ của chính quyền địa phương khi thực hiên chức năng, nhiệm vụ của mình cũng như hạn chế sự can thiệp của chính quyền trung ương vào các công việc của địa phương; thứ hai, mô hình chính quyền được tổ chức theo hai cấp: Cấp vùng (prefectures) và cấp địa phương (municipalities). Mỗi cấp gồm có hội đồng và cơ quan hành pháp được tổ chức theo nguyên tắc bầu cử trực tiếp; thứ ba, chức danh tỉnh trưởng (governor) và thị trưởng (mayor) được bầu cử trực tiếp; thứ tư, chính quyền địa phương bên cạnh việc thực hiện các thẩm quyền chung mà pháp luật đã quy định cụ thể thì còn được trao quyền thực hiện các hoạt động mà pháp luật chưa quy định nếu hoạt động đó là vì lợi ích của người dân địa phương. Quy định này, tạo cho chính quyền địa phương sự chủ động, sáng tạo và đáp ứng nhanh chóng các yêu cầu của nhân dân.

Trong 100 năm qua, các cuộc cải cách tiêu biểu của Nhật Bản về hệ thống chính quyền địa  phương được thực hiện như sau:

a) Cuộc cải cách thứ nhất là tiến hành việc sáp nhập cấp chính quyền cấp cơ sở

Việc sáp nhập này được thực hiện lần thứ nhất năm 1888 - 1889 được gọi là cải cách thời Minh Trị, thông qua việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp cơ sở, và số lượng đã giảm xuống 1/5 (từ 71.314 xuống còn 15.859 đơn vị hành chính cấp cơ sở). Lần sáp nhập lớn thứ hai được thực hiện từ năm 1953 đến năm 1961 - thời Showa - đã giảm số lượng đơn vị hành chính cấp cơ sở xuống còn 3.472 đơn vị. Lần sáp nhập thứ ba được thực hiện từ năm 1999 đến năm 2006 (thời Heiwa), số lượng đơn vị hành chính cấp cơ sở đã giảm thêm được một nửa. Kết quả là sau ba cuộc sáp nhập lớn, hiện nay Nhật Bản chỉ có 47 đơn vị hành chính cấp vùng và khoảng 1.800 đơn vị hành chính cấp cơ sở[1]. Việc tiến hành sáp nhập các đơn vị hành chính cấp cơ sở đã có ý nghĩa quyết định trong việc hoàn thiện hệ thống chính quyền địa phương; giảm các chi phí quản lý cho quản lý hành chính, đảm bảo nguồn lực tài chính, nhân sự cho địa phương, nhất là trong các lĩnh vực quản lý đòi hỏi chí phí đầu tư cao, hay cần phải có sự phối kết hợp quản lý ở địa bàn rộng để có thể phát huy được nội lực của từng địa phương như vấn đề xử lý rác thải, cung cấp nước, vệ sinh y tế… Ngoài ra, để nâng cao năng lực quản lý cho chính quyền cấp cơ sở, Nhật Bản đã chú trọng vào việc nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ địa phương cùng với việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào quản lý, đảm bảo khả năng thực hiện hoạt động quản lý của chính quyền cấp cơ sở trong địa giới hành chính rộng hơn.

b) Đẩy mạnh phân cấp quản lý

Hiến pháp năm 1946 và Luật Tự trị địa phương năm 1947 là văn bản pháp lý quan trọng quy định về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương với mục tiêu xây dựng một hệ thống chính quyền địa phương độc lập thay cho mô hình tập trung quyền lực thời Minh Trị. Tuy nhiên chính quyền địa phương của Nhật Bản vẫn còn mang nhiều dấu hiệu của tập trung quyền lực, mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương chưa được quy định rõ. Đặc biệt, với sự tồn tại của hệ thống các cơ quan được ủy nhiệm chức năng, các thị trưởng không được thực hiện chức năng, nhiệm vụ độc lập mà thường là thực hiện chức năng của một cơ quan hay tổ chức đại diện của chính quyền trung ương ở địa phương. Bên cạnh đó, vai trò của Bộ Nội vụ trong việc thực hiện hoạt động giám sát và điều hành hoạt động của chính quyền cấp vùng và cấp cơ sở thể hiện sự phụ thuộc của địa phương về cơ cấu tổ chức. Hơn nữa, trong lĩnh vực ngân sách, chính quyền địa phương chưa được đảm bảo nguồn thu để chủ động trong việc chi tiêu ngân sách địa phương. Do đó, Nhật Bản đã tiến hành việc xóa bỏ hệ thống cơ quan ủy nhiệm chức năng ở địa phương vào năm 1991 và thực hiện các chương trình cải cách tài chính như: xóa bỏ ngân quỹ trợ cấp quốc gia; chuyển một số các nguồn thu chung như thuế địa phương và phân bổ thuế địa phương; thực hiện các biện pháp nhằm đơn giản hóa các thủ tục và điều kiện trợ cấp ngân sách cho địa phương. Trước yêu cầu đó, Nhật Bản đã ban hành Luật Tăng cường phân cấp quản lý năm 1995 với mục đích đẩy mạnh việc phân quyền cho chính quyền địa phương và hạn chế sự can thiệp của chính quyền trung ương vào công việc của chính quyền địa phương. Để thực hiện được mục tiêu này, Ủy ban Tăng cường phân cấp được thành lập, có kế hoạch tăng cường phân cấp để tiến hành những mục tiêu mà Luật Tăng cường phân cấp đã đề ra[2]. Ngoài ra, Luật Tự trị địa phương được sửa đổi năm 2004 đã quy định cụ thể, chi tiết hơn các hình thức can thiệp của chính quyền trung ương đối với địa phương, điều này thể hiện rõ yêu cầu của việc phân cấp quản lý là xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền mỗi cấp.

Quá trình thực hiện phân cấp quản lý của Nhật Bản luôn được tổ chức nghiên cứu, đánh giá và có những thay đổi cho phù hợp với điều kiện thực tiễn. Sau 15 năm thực hiện phân cấp quản lý, Luật Tăng cường phân cấp quản lý được sửa đổi năm 2006 quy định về định hướng phân cấp trong các nội dung sau: (i) chuyển giao quyền lực cho chính quyền địa phương; (ii) hợp lý hóa   các quy định về lĩnh vực thuế quan trọng của chính quyền địa phương cũng như sự can thiệp của chính quyền trung ương, (iii) kiểm tra các vấn đề liên quan đến hệ thống tài chính, ví dụ như như trợ cấp ngân sách quốc gia và  hệ thống chia sẻ bắt buộc, phân bổ thuế địa phương và phân phối nguồn thu thuế giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương và (iv) thành lập và củng cố hệ thống hành chính chính quyền địa phương nhằm tăng cường quyền tự chủ của công dân[3].

c) Chương trình “Ba cải cách” năm 2002 - 2006

Chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ hành chính công, tuy nhiên nguồn thu từ thuế của địa phương chỉ chiếm 39% trên tổng số nguồn thu thuế của trung ương. Tỉ lệ nguồn thu của trung ương đối với địa phương là 3:2 trong khi đó tỉ lệ chi phí của trung ương và địa phương cho các dịch vụ công là 2:3, như vậy, chính quyền địa phương không đảm bảo được nguồn thu để thực hiện các nhiệm vụ chi của mình, điều đó tạo ra sự phụ thuộc của chính quyền địa phương trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ. Chương trình “Ba cải cách” với mục tiêu là xây dựng một hệ thống cơ quan hành chính địa phương độc lập và tự chủ thông qua việc chuyển giao thẩm quyền từ trung ương cho địa phương, thực hiện ba nội dung chính như sau: 1) cải cách hệ thống trợ cấp quốc gia nhằm xóa bỏ toàn bộ hoặc cắt giảm trợ cấp cho địa phương; 2) Xem xét lại việc phân bổ nguồn thu thuế bao gồm cả việc chuyển giao nguồn thu cho địa phương; 3) Sửa đổi luật phân bổ thuế địa phương. Nhìn chung, ba nội dung cải cách đều nhằm mục đích tăng nguồn thu cho địa phương, giảm sự phụ thuộc của địa phương vào trung ương, để địa phương có thể chủ động, sáng tạo trong việc sử dụng nguồn thu, chi một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện phát triển của mỗi địa phương.

Như vậy, với số dân khoảng 127 triệu người, Nhật Bản đã xây dựng được một hệ thống chính quyền địa phương gọn nhẹ, tự chủ, độc lập, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả thông qua việc thiết lập mô hình chính quyền hai cấp, mở rộng địa bàn quản lý của chính quyền cấp cơ sở cùng với việc giảm số lượng đơn vị hành chính cấp cơ sở, tăng quyền tự chủ trong sử dụng ngân sách địa phương. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực của đội ngũ công chức ở địa phương thông qua việc sửa đổi các quy định về tuyển dụng, sử dụng và đào tạo đội ngũ công chức được Nhật Bản xác định là một trong những điều kiện tiên quyết để chính quyền địa phương có thể đáp ứng đươc yêu cầu quản lý trong một phạm vi rộng hơn, với số lượng dân cư lớn hơn.

TIN MỚI NHẤT
Quyền lợi và trách nhiệm trong hoạt động quản lý
Giám sát về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước: Tập trung vào tổ chức và nhân sự
Kiên quyết với tham nhũng và lợi ích nhóm
Các tin khác
Tin hoạt động Tổ chức nhà nước
(06/12/2016 02:32)
Xây dựng Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 41/2012/NĐ-CP của Chính phủ
Sáng 06/12/2016, tại trụ sở Bộ, Bộ Nội vụ tổ chức Họp Ban soạn thảo, Tổ biên tập xây dựng Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung  ...
Tin mới nhất

Phú Yên nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở

Thông qua dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết và phù hợp với công ước quốc tế

“Cấp trên gương mẫu không nhận quà, cấp dưới không thể đến”

Khẩn trương nghiên cứu, đề xuất xây dựng quy định về từ chức

Hà Nội kiện toàn sắp xếp tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế lớn nhất từ trước tới nay

Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và những vấn đề cần hoàn thiện

Xây dựng Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 41/2012/NĐ-CP của Chính phủ

Tin xem nhiều

Cách mạng Tháng Mười Nga - Nguyên nhân thắng lợi và giá trị lịch sử

Nghị định số 06/2010/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định những người là công chức

Từ lời dạy của Bác đến chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp

Nghị định số 24/2010/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức

Thông tư số 08/2011/TT-BNV của Bộ Nội vụ : Hướng dẫn một số điều của Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định những người là công chức

Thể chế

Đào tạo, bồi dưỡng nhân tài

Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Tuấn
Trụ sở tòa soạn: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0804 6422, 0804 6543; Fax: 0804 6621 - Email: Tapchitcnn@moha.gov.vn
Bản quyền thuộc Tạp chí Tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ
Giấy phép xuất bản: Số 407/GP-BTTT ngày 27/9/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

®Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước là cơ quan báo chí của Bộ Nội vụ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.