22/06/2013 09:46
Nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong công vụ

Trách nhiệm của cán bộ, công chức (CBCC) trong công vụ là yếu tố cơ bản đảm bảo cho công chức hoạt động có hiệu quả và đạt được mục tiêu của tổ chức. Nâng cao trách nhiệm của CBCC là một trong những giải pháp quan trọng trong chương trình cải cách hành chính ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam nhằm đạt tới một nền hành chính phục vụ, hoạt động có hiệu quả.

      

1. Trách nhiệm và các loại trách nhiệm trong công vụ

Thuật ngữ trách nhiệm trong tiếng Anh là “accountability”(1) có nguồn gốc từ tiếng Anglo-Norman (tiếng Pháp dùng ở Anh thời Trung cổ). Ban đầu nó rất gần với thuật ngữ “acounting” với nghĩa là sổ kế toán (bookkeeping). Theo Dubnick, nguồn gốc của từ này có từ thời William I, khi người Norman xâm lược nước Anh. Vào năm 1085, William yêu cầu tất cả những người được giao giữ tài sản trong Vương quốc phải kê khai tài sản mà họ sở hữu và được đánh giá, ghi chép trong một cuốn sổ của Hoàng gia (gọi là Domesday Books). Việc ghi chép này không chỉ nhằm mục đích thu, nộp thuế mà còn là phương tiện để thiết lập nền tảng cho sự quản lý của Hoàng gia.

Trải qua nhiều thế kỷ, thuật ngữ trách nhiệm không còn gắn liền với một lĩnh vực duy nhất là quản lý tài chính hay sổ sách kế toán nữa, mà được coi là cơ sở của hệ thống quản lý công bằng, vô tư và khách quan; không chỉ là trách nhiệm của người dân đối với Hoàng gia hay đối với nhà nước, mà ngược lại, nhà nước cũng phải có trách nhiệm với dân chúng.

Trong xã hội đương đại, thuật ngữ trách nhiệm thường được sử dụng trong các văn bản pháp luật, trong các quy định, quy chế, nhưng khó có một định nghĩa chung về thuật ngữ này. Trong các nghiên cứu về trách nhiệm, thuật ngữ này được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau nhưng phần lớn đều coi trách nhiệm là một yếu tố không thể thiếu của mô hình quản lý nhà nước trong bối cảnh hiện nay, đó là quản lý công mới (New Public Management) hay quản trị nhà nước (governance).

Một số tác giả như Mulgan và Dubnick cho rằng, trong khoa học chính trị đương đại thuật ngữ này được sử dụng đồng nghĩa với minh bạch, dân chủ, hiệu lực, đáp ứng, công bằng. Đây là thuật ngữ chung dùng để chỉ bất cứ một biện pháp nào làm cho các tổ chức đáp ứng được đối tượng phục vụ (công chúng). Theo cách hiểu này, trách nhiệm tồn tại khi các dịch vụ công có chất lượng cao, chi phí thấp và được phục vụ  với phong cách lịch sư(2).

Theo tác giả Considine, trách nhiệm “là sử dụng đúng thẩm quyền trong các mối quan hệ để tìm ra cách thức/biện pháp thuận lợi nhất giúp thực thi công việc thành công”.

Theo nhà nghiên cứu Koppell, trách nhiệm, bên cạnh các yếu tố khác, là  yếu tố tuân thủ nghĩa vụ pháp lý, thực hiện đầy đủ công việc, đáp ứng mong đợi đã đặt ra.

Ở góc độ tiếp cận khác, trách nhiệm, được hiểu là nghĩa vụ giải thích và biện minh cho những hoạt động hay nói cách khác, đó là trách nhiệm giải trình. Theo nghĩa này, trách nhiệm được xem là một mối quan hệ xã hội giữa chủ thể và một cộng đồng, trong đó chủ thể có nghĩa vụ phải giải thích và biện minh cho các hành động của mình, cộng đồng có thể đặt câu hỏi và đánh giá đối với chủ thể(3).

Chủ thể trách nhiệm có thể là một cá nhân hay một tổ chức trong hệ thống hành chính (các cơ quan, tổ chức của chính phủ). Chủ thể cũng có thể là một cá nhân cụ thể nào đó như nhà quản lý, bộ trưởng; hoặc các cơ quan như quốc hội, tòa án, cơ quan kiểm toán; những chủ thể này tuy khác nhau nhưng có chung một điểm là trách nhiệm công. Mối quan hệ trách nhiệm không chỉ tồn tại trong mối quan hệ thứ bậc (cấp trên, cấp dưới), mà còn tồn tại trong mối quan hệ ngang, ví dụ trách nhiệm đối với tòa án được hiểu là trách nhiệm đối với luật pháp; trách nhiệm đối với các tổ chức nghề nghiệp là trách nhiệm nghề nghiệp, trách nhiệm chuyên môn.

Để thực hiện trách nhiệm ở góc độ này đòi hỏi không chỉ sự cung cấp thông tin về thực thi công việc mà còn là khả năng tranh luận, đặt câu hỏi của cộng đồng và chủ thể phải trả lời, bao gồm cả sự đánh giá của cộng đồng về chủ thể đó. Đánh giá đối với chủ thể cũng bao hàm sự trừng phạt chính thức và không chính thức trong trường hợp chủ thể không thực hiện đầy đủ hoặc thực hiện không tốt trách nhiệm của mình.

Qua những phân tích ở trên có thể thấy rằng trách nhiệm của CBCC là việc sử dụng đúng thẩm quyền để thực thi và hoàn thành các công việc được giao. Ngoài thực hiện và hoàn thành các công việc được giao, trách nhiệm của CBCC còn bao gồm cả trách nhiệm giải trình. Thực hiện trách nhiệm là nghĩa vụ của CBCC. Trách nhiệm của CBCC gắn liền với từng vị trí công việc và được xét trong từng mối quan hệ công vụ cụ thể. Ứng với mỗi vị trí công vụ, CBCC sẽ có các mối quan hệ và các trách nhiệm cụ thể khác nhau.

Trách nhiệm của CBCC có nhiều loại. Dựa trên bản chất của cộng đồng mà chủ thể phải có trách nhiệm, có thể phân biệt trách nhiệm chính trị (trách nhiệm đối với các cơ quan bầu); trách nhiệm pháp lý (trách nhiệm đối với tòa án); trách nhiệm hành chính (đối với kiểm toán, thanh tra); trách nhiệm chuyên môn; trách nhiệm xã hội. Căn cứ vào chủ thể trách nhiệm, có thể chia thành trách nhiệm trong mối quan hệ thứ bậc (ví dụ trách nhiệm đối với cấp trên); trách nhiệm của tập thể; trách nhiệm cá nhân. Dựa vào các hoạt động công vụ của tổ chức và từng cá nhân để có thể xác định cán bộ, công chức có trách nhiệm về hoạt động gì: về tài chính, về thủ tục hay trách nhiệm đối với sản phẩm hoặc đối với kết quả/mục tiêu cần phải đạt được. Căn cứ vào mối quan hệ trong công vụ có thể chia thành trách nhiệm theo chiều dọc, theo chiều ngang và trách nhiệm trong mối quan hệ chéo.

Chính vì vậy, khi nghiên cứu trách nhiệm của CBCC phải đặt trong mối quan hệ công vụ cụ thể để xác định rõ các loại trách nhiệm mà CBCC phải thực hiện.

2. Một số vấn đề cần quan tâm nhằm nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức 

Trách nhiệm của CBCC có ý nghĩa rất lớn đối với hiệu quả hoạt động của tổ chức. Nói cách khác, muốn đạt được hiệu quả trong tổ chức, cần phải phân định rõ trách nhiệm cho CBCC gắn với các hoạt động mà họ đảm nhận chứ không chỉ trao quyền. Nâng cao trách nhiệm của CBCC vừa là nội dung vừa là yêu cầu cơ bản của công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, muốn đảm bảo yêu cầu này cần quan tâm đến một số vấn đề sau: 

Thứ nhất, cần xác định các loại trách nhiệm và quy định rõ các trách nhiệm cụ thể gắn với từng vị trí công việc mà CBCC đảm nhiệm.

Để nâng cao trách nhiệm của CBCC cần phải căn cứ vào vị trí và tính chất công việc để xác định trách nhiệm. Trong nghiên cứu và xác định trách nhiệm ở bất cứ mối quan hệ công vụ nào cho cá nhân hay cho tổ chức phải trả lời được ba câu hỏi: trách nhiệm với ai, ai là chủ thể của trách nhiệm và trách nhiệm về vấn đề gì.

Trách nhiệm gắn liền với từng mối quan hệ công vụ cụ thể, do vậy, chỉ có thể nâng cao được trách nhiệm của CBCC khi các trách nhiệm đó được cụ thể hóa trong từng mối quan hệ công vụ ở từng môi trường tổ chức cụ thể, gắn với từng cá nhân CBCC chứ không đề cập đến trách nhiệm một cách chung chung. Phân định rõ trách nhiệm của CBCC và các bên liên quan trong từng mối quan hệ công vụ cụ thể là cơ sở để xác định rõ các quyền hạn tương xứng.

Trong xu thế hiện nay, khi nền hành chính ở các nước nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang chuyển biến mạnh từ một nền hành chính truyền thống quản lý dựa trên quy trình thủ tục, kiểm soát các yếu tố đầu vào sang một nền hành chính phục vụ và hiệu quả dựa trên kết quả đầu ra, đảm bảo tính công khai, minh bạch thì trách nhiệm cá nhân phải được đặc biệt quan tâm và làm rõ, không lẫn lộn giữa trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tập thể. Trong thực thi công vụ cần nhấn mạnh tới trách nhiệm đối với các kết quả hay mục tiêu cần phải đạt được. Trách nhiệm này không chỉ phụ thuộc vào ý thức tự giác của bản thân CBCC mà đòi hỏi sự hỗ trợ của các nhà quản lý cùng với các quy định rõ ràng của pháp luật.

Quy định trách nhiệm cho CBCC là xác định cho họ cần phải làm gì và thực hiện những công việc nào, phải có trách nhiệm báo cáo, giải trình trong thực thi công vụ. Để làm điều đó, cần làm rõ một số vấn đề như: các thông tin nào cần báo cáo, giải trình; ai báo cáo, giải trình; báo cáo, giải trình cho ai và khi nào. Trách nhiệm giải trình chỉ có thể thực hiện được khi nền công vụ đảm bảo được tính minh bạch và có được hệ thống các quy định pháp luật đầy đủ, chính xác.

Thứ hai, nâng cao năng lực của CBCC để họ có khả năng thực hiện và hoàn thành tốt trách nhiệm được giao.

Năng lực của CBCC là cơ sở để công chức thực hiện tốt các công việc được giao, hoàn thành trách nhiệm công vụ của mình. Trách nhiệm của CBCC dù có được quy định rõ ràng nhưng nếu không có năng lực họ cũng không có khả năng triển khai và thực hiện trách nhiệm hiệu quả. Không có năng lực, CBCC không dám đương đầu với những thay đổi, không dám chủ động tạo ra thay đổi và không có khả năng làm chủ được thay đổi để ứng phó với những điều kiện phức tạp và luôn biến động của môi trường, vì thế khó có thể đảm bảo thực thi tốt công vụ. Không đủ năng lực, CBCC sẽ không thể thực hiện tốt trách nhiệm giải trình trong các mối quan hệ công vụ dẫn đến tính minh bạch trong hoạt động của quản lý nhà nước không được đảm bảo, làm ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi công vụ và làm giảm lòng tin của nhân dân vào các cơ quan nhà nước.

Thứ ba, cần cung cấp các phương tiện và điều kiện để CBCC chủ động thực hiện tốt trách nhiệm của mình.

Để thực hiện tốt công vụ và hoàn thành trách nhiệm của mình, CBCC cần phải được đảm bảo các điều kiện về tài chính, về cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện làm việc. Bên cạnh các yếu tố vật chất, phương tiện và điều kiện làm việc còn bao gồm một môi trường làm việc tốt đảm bảo phát huy được năng lực, sở trường của từng CBCC, đảm bảo sự hợp tác có hiệu quả của các cá nhân và nhóm trong từng tổ chức và giữa tổ chức này với tổ chức khác. Khi CBCC có năng lực làm việc và có môi trường làm việc tốt họ có thể chủ động tạo ra những thay đổi tích cực trong tổ chức, trong thực thi công vụ, đồng thời thực hiện các thay đổi đó. Đây là cơ sở quan trọng để hoàn thành trách nhiệm được giao và đạt được mục tiêu tổ chức đề ra.

Thứ tư, phải có cơ chế kiểm soát và điều chỉnh quá trình thực hiện trách nhiệm của CBCC trong thực thi công vụ.

Kiểm soát quá trình thực hiện trách nhiệm của CBCC trong thực thi công vụ thực chất là quá trình kiểm soát nhằm đảm bảo CBCC đạt được kết quả thực thi công vụ của mình. Muốn vậy, phải làm rõ: bằng cách nào, ai sẽ xem xét, kiểm soát, điều chỉnh quá trình thực thi công vụ và bằng cách nào kết quả thực thi công vụ được cải thiện.

Cần có công cụ để thu thập và phân tích, đánh giá đối với các thông tin về quá trình thực thi công vụ của CBCC, từ đó có cơ sở để kiểm soát và điều chỉnh quá trình thực thi công vụ. Không chỉ tập trung vào các công cụ quản lý nội bộ mà cần phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng… trong kiểm soát đối với việc thực hiện trách nhiệm của CBCC.

Cơ chế kiểm soát phải đảm bảo thực hiện được trách nhiệm giải trình của CBCC, làm rõ nghĩa vụ thông báo cho cộng đồng về hoạt động thực thi công vụ của mình (các quyết định hành chính và hành vi hành chính) thông qua việc cung cấp các thông tin về quá trình thực thi công vụ, về quy trình thủ tục, về những kết quả đạt được. Trong trường hợp chưa đạt được mục tiêu hay cam kết như mong muốn, cần giải thích rõ và kịp thời.

Thứ năm, xây dựng và thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với CBCC, đặc biệt là chính sách tiền lương.

Tiền lương là mối quan tâm hàng đầu và là động lực làm việc của người lao động trong bất cứ tổ chức nào. Một chính sách tiền lương hợp lý, khoa học, đảm bảo công bằng sẽ khuyến khích CBCC làm việc hết mình, phát huy mọi khả năng sáng tạo để thực thi công vụ có hiệu quả và hoàn thành tốt trách nhiệm của mình.  Chính vì vậy, muốn nâng cao trách nhiệm CBCC trong công vụ cần phải xây dựng và thực hiện tốt chính sách tiền lương. Tuy nhiên, chính sách tiền lương chỉ có thể phát huy tác dụng và có những tác động tích cực đến trách nhiệm của CBCC khi đảm bảo được các yêu cầu như: trả lương theo hướng thị trường, trả lương theo công việc và trả lương theo vị trí công việc.

Thứ sáu, phải xử lý nghiêm minh các trường hợp không thực hiện đầy đủ hoặc không thực hiện tốt trách nhiệm của mình.

Trách nhiệm của chủ thể trong công vụ còn bao gồm cả sự đánh giá đối với các hoạt động công vụ của CBCC. Trong trường hợp CBCC không thực hiện tốt công việc được giao, cần phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, đó sẽ là cơ sở quan trọng để giúp CBCC thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả trách nhiệm công vụ của mình.

Ghi chú:

(1) Trong tiếng Anh, thuật ngữ responsibility cũng được hiểu là trách nhiệm. Sự khác nhau là ở chỗ, thuật ngữ responsibility chỉ là thực hiện các công việc, còn accountability ngoài thực hiện công việc còn bao hàm cả trách nhiệm báo cáo, giải trình. Tuy nhiên sự phân biệt này chỉ có tính chất tương đối vì trong nhiều tài liệu hai thuật ngữ này được sử dụng thay thế cho nhau.

(2) Xem O’Connell (2005) “Program Accountability as an Emergent Property: The Role of Stakeholders in a Program’s Field”, Public Administration Review, 65, 1: 85-93.

(3) Xem: Mark Bovens (2009) Public Acountability: A framework for the analysis and assessment of accountability arrangements in the public domain, EU research group.

Tài liệu tham khảo:

Considine, Mark (2002) “The End of the Line? Accountable Governance in the Age of Networks, Partnerships, and joined-Up Services”, Governance, 15, 1: 21-40.

Dubnick, M. J., (2002) “Seeking Salvation for Accountability”, paper presented at the 2002 Annual Meeting of the American Political Science Association, Boston.

Koppell, Jonathan GS (2005) Pathologies of Accountability: ICANN and the Challenge of “Multiple Accountabilities Disorder”’, Public Administration Review, 65, 1: 94-107.

Mulgan, Richard, (2000) ‘”Accountability”: An ever expanding Concept?, Public Administration, 78: 555.O’Connell, Lenahan (2005) Program Accountability as an Emergent Property: The Role of Stakeholders in a Program’s Field, Public Administration Review, 65, 1: 85-93.

TS. Nguyễn Thị Hồng Hải - Khoa Tổ chức và Quản lý nhân sự, Học viện Hành chính
[9051]
Nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong công vụ1. Trách nhiệm và các loại trách nhiệm trong công vụ Thuật ngữ trách nhiệm trong tiếng Anh là “accountability”(1) có nguồn gốc từ tiếng Anglo-Norman (tiếng Pháp dùng ở Anh thời Trung cổ). Ban đầu nó rất gần với thuật ngữ “acounting” với nghĩa là sổ
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
TIN MỚI NHẤT
Một số giải pháp nâng cao đạo đức công chức
Vượt qua rào cản từ nhận thức khi triển khai dịch vụ công trực tuyến mức 3 cấp xã
Một số ý kiến về việc thực hiện cơ chế “phân cấp” theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
Các tin khác
Tin hoạt động Tổ chức nhà nước
(08/12/2016 05:18)
Bế giảng lớp bồi dưỡng ngạch Chuyên viên chính khoá 35 và Chuyên viên khóa 37
Sáng 08/12/2016, tại Hà Nội, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức - Bộ Nội vụ tổ chức Lễ Bế giảng 02 lớp bồi dưỡng  ...
Tin mới nhất

Hội nghị cán bộ toàn quốc phổ biến, quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Không đơn thuần là thất thoát ngân sách

Năm 2018: 80% thủ tục xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh qua Một cửa quốc gia

Bế giảng lớp bồi dưỡng ngạch Chuyên viên chính khoá 35 và Chuyên viên khóa 37

Tổ chức lớp Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng nghiên cứu khoa học năm 2016

Bàn về thi tuyển các chức danh công chức lãnh đạo hiện nay

Kỷ cương và đồng hành

Tin xem nhiều

Mô hình tổ chức chính quyền địa phương một số nước trên thế giới

Cơ quan nào có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật?

Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức: Một số thiết chế độc lập và chịu trách nhiệm

Một số nội dung về nguồn nhân lực và phương pháp đánh giá nguồn nhân lực

Phẩm chất nhà quản lý trong bối cảnh hội nhập

Châu Âu: Đường sắt cao tốc hút khách của hàng không

Xung đột dân tộc, tôn giáo ở một số nước và giải pháp

Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Tuấn
Trụ sở tòa soạn: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0804 6422, 0804 6543; Fax: 0804 6621 - Email: Tapchitcnn@moha.gov.vn
Bản quyền thuộc Tạp chí Tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ
Giấy phép xuất bản: Số 407/GP-BTTT ngày 27/9/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

®Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước là cơ quan báo chí của Bộ Nội vụ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.