12/03/2015 02:06
Xu hướng phân cấp thu - chi ngân sách nhà nước cho chính quyền đô thị tại một số nước trên thế giới

Với sự tập trung về quy mô, tính đa dạng xã hội, khả năng thu hút các lực lượng kinh tế, chính quyền đô thị có trách nhiệm cung cấp dịch vụ (hoặc những dịch vụ có quy mô lớn, có yếu tố ngoại lai tác động đến nhiều địa phương) nhiều hơn so với chính quyền địa phương. Do vậy, năng lực và quy mô tài chính ngân sách đô thị thường lớn hơn nhằm đảm bảo thực hiện các trách nhiệm đặc thù của chính quyền đô thị. Theo đó, chính quyền đô thị cần được phân cấp mạnh hơn, có quyền tự chủ ngân sách lớn hơn, thể hiện qua: (1) Quyền định ra chính sách thu riêng của đô thị; (2) Tỷ lệ ngân sách đô thị trong tổng ngân sách quốc gia; (3) Mức độ tự chủ của đô thị trong phân bổ chi tiêu ngân sách.

Ảnh minh họa: internet
Nhiệm vụ chi của chính quyền đô thị
Chính quyền đô thị mang tính tự chủ cao hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước (NSNN) cũng như thực hiện những nhiệm vụ chi đặc trưng hơn so với chính quyền địa phương.
Hầu hết các nước, chức năng cơ bản của chính quyền đô thị là cung cấp những hàng hóa, dịch vụ công như giáo dục, y tế, giao thông, an ninh công cộng, dịch vụ công ích, vệ sinh môi trường, hạ tầng đô thị và các chức năng khác về mặt hành chính, quản lý.
Chính quyền đô thị còn thực hiện những nhiệm vụ khác bao hàm cả các chức năng của chính quyền cấp bang, tỉnh và một số nhiệm vụ của chính quyền trung ương do khu vực đô thị rộng lớn như cơ sở hạ tầng, giao thông đô thị, văn hóa, xã hội, điện, y tế công cộng, nhà ở, trường học, bệnh viện, phúc lợi xã hội... Ngoài ra, chính quyền đô thị còn thực hiện các nhiệm vụ đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội, phân bổ sử dụng nguồn lực, quy hoạch đô thị.
Chính quyền Tô-rôn-tô (Ca-na-đa) cung cấp một loạt các dịch vụ bao gồm cả dịch vụ xã hội như phúc lợi xã hội, y tế công cộng và nhà ở (chiếm 34% trong tổng chi), hệ thống giao thông công cộng (19%), các dịch vụ cứu hỏa, xe cứu thương (16%), công viên, văn hóa và giải trí (5%). Hội đồng Luân Đôn (Anh) có vai trò chiến lược trong các lĩnh vực như môi trường đô thị, an ninh xanh, văn hóa và du lịch, phát triển kinh tế, giao thông vận tải, xử lý rác thải, lập kế hoạch và sử dụng đất.
Tuy nhiên, cơ cấu phân cấp nhiệm vụ chi trong chính quyền đô thị có sự khác biệt tương đối do cấu trúc chính quyền đô thị. Thông thường có 3 phương thức thực hiện nhiệm vụ chi trong chính quyền đô thị: (1) Thực hiện theo thẩm quyền (áp dụng tại Toronto (Ca-na-đa); Xao Pao-lô, Ri-ô Đờ Gia-nê-rô (Bra-xin), Ma-ni-la (Phi-líp-pin), Cô-pen-ha-ghen (Đan Mạch); (2) Thực hiện theo chức năng (áp dụng tại Van-cu-vơ (Ca-na-đa); Xtốc-khôm (Thụy Điển), Bô-gô-tô, Me-đơ-lin (Cô-lôm-bi-a)); (3) Mô hình đô thị lớn (áp dụng tại Tô-ky-ô (Nhật Bản), Băng Cốc (Thái Lan), Bắc Kinh, Thượng Hải (Trung Quốc)).
Phân cấp theo thẩm quyền (chính quyền 2 cấp)
Mô hình này bao gồm các chính quyền địa phương trong khu vực đô thị và chính quyền đô thị bao quát. Các chính quyền địa phương trong cùng khu vực đô thị có mức độ tự chủ nhất định trong việc quyết định chi tiêu cho các dịch vụ công, cũng như thẩm quyền đối với các khoản thu như thuế, phí, lệ phí và thỏa thuận tài trợ cho các khoản nợ. Chính quyền đô thị cấp trên chỉ thực hiện những nhiệm vụ mà chính quyền địa phương không đảm nhận được hay những nhiệm vụ mang tính kết nối giữa nhiều địa phương và phát triển toàn đô thị. Khu vực đô thị Cô-pen-ha-ghen được trực tiếp bầu ra Hội đồng khu vực là chính quyền cấp trên, chính quyền đô thị bao quát với trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ có tính liên kết vùng như giao thông liên vùng, cơ sở hạ tầng, phối hợp phát triển kinh tế và xã hội, trật tự công cộng diện rộng, hành chính đô thị và dịch vụ y tế; 45 chính quyền địa phương cấp dưới thực hiện các dịch vụ cơ bản của địa phương như bảo trì đường xá, công viên, chợ, lò mổ, tiện ích công công, giáo dục mầm non, tiểu học. và cả giáo dục trung học.
Phân bổ nhiệm vụ chi trong mô hình chính quyền 2 cấp
Nguồn: Enid Slack (2007). Ma.nanging the coordination of service delivery in metropolitan cities: The role of metropolitan governance
Ưu điểm của mô hình này là các địa phương vẫn có quyền tự chủ trong thực hiện các nhiệm vụ chi, nguồn thu của mình, thực hiện nhiệm vụ sát với thực tiễn của địa phương, đặc biệt là phúc lợi xã hội nhưng chi phí cao. Nhưng nhược điểm của mô hình là có sự bất bình đẳng về nguồn thu và nhiệm vụ chi trong các chính quyền địa phương trong đô thị do năng lực tài chính và khả năng cung cấp dịch vụ công khác nhau, cần có sự điều phối của chính quyền cấp trên.
Mô hình phân cấp theo chức năng
Theo phương thức này, một số chức năng của đô thị sẽ được thực hiện thông qua các công ty công cộng có sở hữu của Nhà nước hoặc các quận đặc biệt thực hiện các nhiệm vụ của đô thị nhằm giảm tác động của quy mô kinh tế cũng như công bằng giữa các cấp chính quyền địa phương. Mô hình này là mô hình chính quyền 1 cấp, chính quyền đô thị được bầu ra^ theo đại diện địa phương. Địa phương được phép thực hiện các nhiệm vụ chi của mình, tuy nhiên, một số nhiệm vụ chi sẽ được thực hiện theo tiêu chuẩn chung đối với tất cả các địa phương. Tại Van-cu-vơ (Ca-na-đa), các quận đặc biệt (GVRD) thực hiện các nhiệm vụ về kiểm soát ô nhiễm môi trường, công viên, xử lý chất thải rắn, nhà ở công cộng, việc làm, giao thông công cộng... Các khoản chi lớn của GVRD bao gồm nước và hệ thống thoát nước (42% tổng chi), chi đầu tư phát triển (23%), xử ký chất thải rắn (16%)... Nguồn thu chủ yếu của GVRD là từ phí sử dụng, chiếm 80%. Tại các đô thị lớn của Ý, ngân sách cho một số công ty thực hiện vận chuyển, thu gom, xử lý rác thải và các dịch vụ xử lý nước chiếm khoảng 25% tổng chi tiêu của chính quyền đô thị.
Theo phương thức này, chính quyền đô thị có tính tự chủ cao trong thực hiện nhiệm vụ chi và nguồn thu, bao quát thực hiện nhiệm vụ chi của các địa phương trong đô thị, đồng thời thực hiện chuyên môn hóa được các nhiệm vụ chi của đô thị. Tuy nhiên, phương thức này có hạn chế là một số nhiệm vụ chi có thể không sát với nhu cầu thực tế của từng địa phương riêng biệt, giảm mức độ tự chủ của địa phương. Đồng thời, các cơ quan, các quận đặc biệt đôi khi chỉ phục vụ một số nhiệm vụ chi chuyên biệt, không đảm bảo cho việc phối hợp và đạt được tất cả các mục tiêu.
Mô hình đô thị lớn
Mô hình này được kết hợp giữa mô hình phân quyền và mô hình theo chức năng (Luân Đôn, Tô-ky- ô, O-rê-gân). Mô hình này bao gồm nhiều đô thị nhỏ thực hiện các nhiệm vụ chi của địa phương đồng thời chính quyền đô thị thực hiện nhiệm vụ có tính quy mô kinh tế và tác động ngoại lai qua các huyện đặc biệt hay các công ty công cộng, nhiệm vụ định hướng phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đô thị. Mô hình này khắc phục nhược điểm của mô hình chức năng khi sát với nhu cầu của địa phương và khắc phục nhược điểm mô hình thẩm quyền khi tạo điều kiện cân bằng giữa các địa phương tại một số nhiệm vụ chi. Ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là tăng cường sự phối hợp trong việc cung cấp dịch vụ gắn với các địa phương mà vẫn duy trì được tính chủ động của chính quyền cấp dưới, tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực, quy mô kinh tế, giảm tác động yếu tố ngoại lai; góp phần đảm bảo công bằng trong cung cấp dịch vụ địa phương mà không phụ thuộc vào năng lực tài chính cũng như thẩm quyền của địa phương đó. Đồng thời, tăng khả năng thu dựa trên cơ sở thuế rộng, tiếp cận khu vực rộng để nâng cao nguồn thu cũng như quản lý thu hiệu quả. Tuy nhiên, chính quyền đô thị theo mô hình này cũng có một số tồn tại như giảm quyền lực của cử trị địa phương trong việc tác động đến ngân sách địa phương, có thể làm nảy sinh xung đột giữa các cấp chính quyền.
Đô thị Đại Luân Đôn gồm khu vực Thủ đô (GLA) và 32 vùng, có sự phân bổ ngân sách tương đối rõ ràng trên cơ sở nhiệm vụ chi gữa vùng hành chính Luân Đôn và chính quyền cấp dưới. GLA thực hiện các trách nhiệm như bảo vệ môi trường, văn hóa và du lịch, phát triển kinh tế, giao thông, xử lý rác thải, quy hoạch và sử dụng đất, phúc lợi xã hội trên cơ sở nguồn lực từ trợ cấp mục tiêu, các khoản thuế tài sản và phí sử dụng. Bốn chức năng chính của GLA được thực hiện thông qua các cơ quan sau: Sở Giao thông Vận tải Luân Đôn (TFL) chịu trách nhiệm về giao thông, xe buýt, tàu điện ngầm, đèn giao thông, taxi (khoảng 55% tổng chi GLA); cơ quan phát triển Luân Đôn (LDA) phối hợp phát triển và phục hồi kinh tế (5%); cơ quan cảnh sát thủ đô (MPA, 35%); cơ quan phòng cháy, chữa cháy và các trường hợp khẩn cấp. Chính quyền cấp dưới thực hiện các nhiệm vụ cơ bản như giáo dục, nhà ở, an sinh xã hội, vệ sinh đường phố, đường giao thông và quy hoạch địa phương, một số dịch vụ nghệ thuật và giải trí với nguồn lực chủ yếu từ thuế tài sản, thuế kinh doanh và trợ cấp khuyến khích tăng thu.
Phân cấp nguồn thu cho chính quyền đô thị
Việc thực hiện tương đối nhiều nhiệm vụ chi phức tạp bao quát trên một khu vực đô thị rộng lớn là một thách thức trong việc phân cấp nguồn thu cho chính quyền đô thị. Nguồn thu của chính quyền đô thị bao gồm thuế, phí, các khoản chuyển giao giữa các cấp chính quyền. Đồng thời, do đặc trưng của đô thị là việc thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng nhiều nên việc huy động nguồn lực tài trợ cho cơ sở hạ tầng là một vấn đề quan trọng trong nhiệm vụ thu của ngân sách đô thị.
Hầu hết các nước đang phát triển đều có quy định rõ ràng các loại thu, thẩm quyền thu cho các cấp chính quyền kể cả chính quyền đô thị. Nguyên tắc phân cấp nguồn thu cho chính quyền đô thị: Cơ sở thuế ổn định; tốc độ tăng thuế đáp ứng tốc độ tăng chi của địa phương; gánh nặng thuế chủ yếu chuyển giao cho những dân cư ở chính địa phương đó; quản lý đơn giản, minh bạch, đảm bảo trách nhiệm giải trình. Nguồn thu quan trọng của đô thị chủ yếu từ thuế tài sản, thuế thu nhập, thuế bán hàng, thuế kinh doanh... Tại Nam Phi, nguồn thu của chính quyền đô thị là các khoản thu có tính ổn định và gắn với lợi ích trực tiếp của các dịch vụ mà chính quyền đô thị mang lại như thuế tài sản, thuế bất động sản, phí và lệ phí. Tương tự tại Ấn Độ, thuế tài sản, thuế nhà đất, thuế tiêu dùng cũng là nguồn thu quan trọng của đô thị.
T uy tại các nước đều phân cấp tương đối rõ ràng các khoản thu của chính quyền đô thị nhưng thẩm quyền về của chính quyền đô thị tại các nước tương đối khác nhau. Một số nước phát triển và mới nổi (Anh, Nam Phi, Bra-xin, Mê-hi-cô.) các chính quyền đô thị có thẩm quyền tương đối trong việc điều chỉnh thuế suất, áp một số loại phí sử dụng, tỷ trọng nguồn thu riêng của đô thị trong tổng ngân sách đô thị tương đối lớn (trên 70%). Tuy nhiên, tại một số nước đang phát triển (Thái Lan, Phi-líp-pin, Trung Quốc.), độ tự chủ của chính quyền đô thị tương đối thấp khi việc điều chỉnh thuế suất, áp cơ sở thuế, các loại phí đô thị là trách nhiệm của chính quyền trung ương nên tỷ trọng nguồn thu riêng tương đối thấp (dưới 50%). Riêng Luân Đôn, các khoản trợ cấp tương đối cao là các khoản trợ cấp mục tiêu cho hệ thống giao thông, phát triển kinh tế, an ninh, khoản thưởng vượt thu của chính quyền trung ương (80% nguồn thu của GLA, 75% nguồn lực của chính quyền cấp dưới).
Tỷ lệ nguồn thu ngân sách của một số chính quyền đô thị Đơn vị: %
Nguồn: OECD, riêng Tokyo: http://www.metro.tokyo.jp/ENGLISH/PROFILE/index.htm
Thuế tài sản (thuế nhà, đất): Là nguồn thu quan trọng tại một số nước phát triển (Ca-na-đa, Mỹ, Úc, Hà Lan) nhưng lại tương đối thấp tại các nước đang phát triển. Thu từ thuế tài sản chiếm 50% trong tổng thu của Tô-rôn-tô, Mông-trê-an, Men-bơn; 34% ngân sách thành phố Niu Yoóc nhưng chỉ chiếm khoảng 5% tổng thu của Ma-ni-la, Băng-cốc. Tại Bu-san và Đê-gu (Hàn Quốc), thuế tài sản là nguồn tài chính quan trọng nhưng có nguồn gốc từ chuyển nhượng bất động sản, mang tính chất 1 lần, không đảm bảo tính ổn định. Tại Cếp-thao (Nam Phi), khoảng 20% nguồn thu của đô thị là thuế thu từ giá vốn đất và giá trị tăng
thêm trên đất. Tuy nhiên, tại một số nước đang phát triển, việc tính toán giá trị tăng thêm của tài sản tại các đô thị là một vấn đề phức tạp, cơ sở thuế không ổn định do yếu tố thị trường, kinh tế.
Các loại phí, lệ phí, thuế bán hàng: Được đánh trên các loại tiện ích đô thị là một nguồn lực quan trọng trong việc duy trì và thực hiện các dịch vụ đô thị như nhà ở, giao thông công cộng, điện, nước, rác thải. Phí sử dụng được áp dụng nhiều tại các nước đang phát triển (châu Âu) do chính quyền đô thị là chủ sở hữu toàn bộ hoặc một phần trong các công ty dịch vụ công cộng. Phí sử dụng nhằm tài trợ cho các hoạt động của các công ty. Tại các nước mới nổi và đang phát triển, phí sử dụng cũng đang dần được sử dụng nhằm duy trì các dịch vụ tiện ích như điện, nước, vệ sinh. Một số khoản phí sử dụng như tiền thuê nhà ở công cộng, giá nước, giá xe buýt. Tỷ trọng phí sử dụng tại các đô thị tương đối cao, khoảng 10% trên tổng thu ngân sách đô thị.
Các nguồn thu chia sẻ như thuế thu nhập, thuế kinh doanh, thuế tiêu dùng (thuế GTGT): Tuy các nguồn thu này tương đối phù hợp với chính quyền đô thị do cơ sở thuế tương đối co giãn và phù hợp với nguyên tắc gánh nặng thuế rơi chủ yếu vào những người được hưởng lợi từ các dịch vụ cung cấp, nhưng thẩm quyền xác định cơ sở thuế cũng như mức thuế suất thuộc chính quyền trung ương. Các khoản thu này được căn cứ trên cơ sở "nguồn gốc” phát sinh khoản thu. Tại một số nước có độ phân cấp cao (Mê-hi- cô, Thụy Điển, Ca-na-đa, Phần Lan, Tây Ban Nha.), chính quyền đô thị cũng như chính quyền khác được điều chỉnh mức thuế suất. Tỷ trọng thu của các nguồn thuế này trong tổng thu của đô thị tương đối lớn (27% ngân sách Niu Yoóc, thu từ thuế kinh doanh ở Phi-líp-pin chiếm khoảng 30% nguồn thu địa phương.).
Do đặc trưng của nguồn thu mang tính chu kỳ kinh tế, hoạt động sản xuất - kinh doanh, phân phối hàng hóa không chỉ ở một địa phương nên nguồn thu này là nguồn thu chia sẻ giữa chính quyền trung ương và đô thị. Tuy nhiên, để đảm bảo công bằng cho các đô thị tập trung nguồn lực kinh tế, một số nước xây dựng thêm tỷ lệ phụ chia sẻ nhằm tăng thêm nguồn thu để lại cho chính quyền đô thị. Đô thị Ma-đơ-rít được hưởng 1/3 nguồn thu từ thuế thu nhập.
Nguồn chuyển giao ngân sách: Là một biện pháp giải quyết vấn đề mất cân đối giữa nguồn thu và nhiệm vụ chi của chính quyền đô thị cũng như tăng cường nguồn lực cho chính quyền đô thị thực hiện các nhiệm vụ đặc trưng của mình.
Do sự khác nhau tương đối về sự tự chủ của chính quyền đô thị tại các nước phát triển và các nước đang phát triển nên tỷ trọng nguồn chuyển giao trong tổng ngân sách đô thị khác nhau. Chính quyền khu vực đô thị tại một số nước phát triển và mới nổi không phụ thuộc nhiều vào chuyển giao giữa các cấp chính quyền địa phương. Xtốc-khôm, Pa-ri, Ma-đơ-rít, Cếp-thao có khoảng 2/3 nguồn thu từ thuế và phí.
Các khoản chuyển giao chủ yếu thực hiện mục tiêu của chính quyền trung ương. Tại một số nước đang phát triển có mức độ tập trung cao như Thái Lan, Phi-líp-pin, chính quyền đô thị bị hạn chế về độ tự chủ trong xác định các cơ sở thuế, thuế suất và phí sử dụng thì tỷ trọng các khoản chuyển giao và nguồn thu chia sẻ tương đối lớn khoảng 50% (Băng Cốc, Thái Lan). Hầu hết các nước đều đang hướng đến nguồn chuyển giao có điều kiện nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển của đô thị (phát triển kinh tế- xã hội, cơ sở hạ tầng và tiện ích đô thị). Tại thành phố Cô-pen-ha-ghen, khoản chuyển giao có điều kiện chủ yếu thực hiện việc chăm sóc sức khỏe, 75% khoản chuyển giao từ chính quyền trung ương và 25% từ chính quyền đô thị.Thẩm quyền vay nợ của chính quyền đô thị
Một đặc trưng của thẩm quyền đô thị là khả năng được ưu tiên phát hành các công cụ nợ huy động nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị. Tại một số nước phân cấp cao như Nam Phi, Bra-xin, thẩm quyền vay nợ được thực hiện ở tất cả chính quyền địa phương chứ không riêng chính quyền đô thị. Tại một số nước như Thái Lan, Trung Quốc, chính quyền địa phương không được phép vay nợ nhưng thực hiện thí điểm thẩm quyền vay nợ tại các đô thị như Băng Cốc, Bắc Kinh, Thượng Hải (2011). và chủ yếu là vay thị trường trong nước. Việc vay nợ của chính quyền đô thị phần lớn thông qua phát hành trái phiếu trong nước hoặc các khoản vay thông qua các công ty công cộng của chính quyền đô thị. Tuy nhiên, khủng hoảng nợ là một vấn đề quan trọng trong quản lý ngân sách đô thị. Khủng hoảng nợ tại Bra-xin, Ác-hen-tin-na những năm 1990. Thượng viện liên bang Bra-xin cũng đưa ra Nghị quyết số 43 (2001) xác lập mức giới hạn cố định và điều kiện hoạt động tín dụng của các bang và địa phương, bao gồm cả việc cấp bảo lãnh.
Bài học kinh nghiệm
Trước tiên, cần phân chia rõ ràng trách nhiệm giữa ngân sách trung ương, địa phương và đô thị, tránh sự chồng chéo trong phân cấp thu chi ngân sách. Phân cấp quản lý kinh tế - xã hội ổn định mà mô hình tổ chức chính quyền địa phương thống nhất về quyền hạn và nhiệm vụ. Tăng cường công khai, minh bạch bằng thể chế hóa cơ chế chính sách.
Tuy có nhiều mô hình phân cấp thực hiện nhiệm vụ chi của đô thị nhưng thực chất có thể phân định tương đối cụ thể các nhiệm vụ chi trong đô thị. Đối với các địa phương, đô thị nhỏ trong khu vực đô thị lớn, nên tập trung vào các dịch vụ mang tính sát thực với người dân như mầm non, giáo dục tiểu học, chiếu sáng, rác thải, an ninh công cộng, an sinh xã hội. Đối với đô thị bao quát, nên tập trung vào những nhiệm vụ chi mang tính quy mô, liên vùng, phát triển toàn diện trên vùng đô thị rộng lớn như cơ sở hạ tầng, giao thông liên vùng, phát triển nguồn nhân lực, bưu chính viễn thông, nhà ở, y tế, an ninh. Đồng thời, để nâng cao hiệu quả chi NSNN có thể thành lập các công ty dịch vụ công, xã hội hóa các dịch vụ đô thị đảm bảo sát với nhu cầu của người dân, nâng cao mặt bằng chất lượng toàn đô thị.
Đối với phân cấp chi ngân sách của chính quyền đô thị, cần phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền các cấp trong việc cung cấp các dịch vụ công; Cho phép chính quyền đô thị được quy đinh một số khoản chi, định mức phù hợp với nguồn thu và điều kiện giá cả của chính quyền đô thị đó.
Đối với phân cấp thu ngân sách của chính quyền đô thị, cần huy động hiệu quả nguồn lực tài chính xây dựng chính quyền đô thị. Cho phép thu một số khoản thu đặc thù, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội
và mở rộng nguồn thu 100% của địa phương gắn với phân định trách nhiệm cung cấp dịch vụ đô thị. Dựa trên đặc trưng các khoản thu cho đô thị có cơ sở thuế rộng, ổn định, hiệu quả đối với người sử dụng, xây dựng cơ chế khuyến khích tăng thu. Tăng cường tỷ trọng thu đối với các khoản thu gắn với lợi ích tiêu dùng như phí, lệ phí, phí phát triển đô thị... tăng quyền hạn của chính quyền đô thị trong việc thiết lập các khoản phí đô thị. Đối với thuế tài sản (thuế nhà, đất), cần xây dựng cơ sở tính thuế ổn định như giá trị tăng thêm từ đất, thuế nhà ở. tránh tính thuế trên các khoản thu một lần từ đất như thu chuyển nhượng quyền sử dụng đất. ^
Đối với một số khoản thu như thuế GTGT, thuế thu nhập, thuế doanh thu cần chuyển thành khoản thu giữa trung ương và địa phương nhằm tránh những phức tạp trong quản lý hành chính cũng như những tác động tiêu cực đối với phân bổ nguồn lực và lưu thông hàng hóa. Tuy nhiên, nên có cơ chế phụ thu đối với các sắc thuế này do đô thị là nơi tập trung phát triển kinh tế - xã hội, nhiều hoạt động kinh tế, thương mại hơn các địa phương khác. Đối với nguồn chuyển giao ngân sách, tập trung dần sang các khoản trợ cấp có mục tiêu trên cơ sở hiệu quả đầu ra, tạo sự lan tỏa ra khu vực khác như cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải.
Về vay nợ của chính quyền đô thị, quy định các điều kiện nhằm hạn chế rủi ro, có các biện pháp giám sát chặt chẽ nguồn vốn vay và hiệu quả sử dụng nguồn vốn thay vì chỉ áp dụng điều kiện hạn mức dư nợ vay như hiện nay. Thận trọng trong vay nợ, cân nhắc khả năng chi trả nợ và mức dư nợ của đô thị, các khoản nợ vay ngoài ngân sách thông qua các công ty thuộc chính quyền đô thị.
ThS. Nguyễn Thị Thúy - Phạm Thị Phương Hoa
-------------------------------------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bahl, Roy và Johannes Linn (1992). “Urban Public Finance in Developing Countries”. New York: Oxford University Press.
2. The World Bank (2012). “Grant Financing of Metropolitan Areas”.
3. “Overview of Tokyo”: http://www.metro.tokyo.jp/ENGLISH/PROFILE/IMG/2012_en_13-38.pdf.
4. Enid Slack (2007). “Managing the coordination of service delivery in metropolitan cities: The role of metropolitan governance”.
Theo: mof.gov.vn
[2484]
Xu hướng phân cấp thu - chi ngân sách nhà nước cho chính quyền đô thị tại một số nước trên thế giớiẢnh minh họa: internet       Nhiệm vụ chi của chính quyền đô thị Chính quyền đô thị mang tính tự chủ cao hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước (NSNN) cũng như thực hiện những nhiệm vụ chi đặc trưng
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
TIN MỚI NHẤT
Quyền lợi và trách nhiệm trong hoạt động quản lý
Giám sát về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước: Tập trung vào tổ chức và nhân sự
Kiên quyết với tham nhũng và lợi ích nhóm
Các tin khác
Tin hoạt động Tổ chức nhà nước
(06/12/2016 02:32)
Xây dựng Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 41/2012/NĐ-CP của Chính phủ
Sáng 06/12/2016, tại trụ sở Bộ, Bộ Nội vụ tổ chức Họp Ban soạn thảo, Tổ biên tập xây dựng Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung  ...
Tin mới nhất

Phú Yên nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở

Thông qua dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết và phù hợp với công ước quốc tế

“Cấp trên gương mẫu không nhận quà, cấp dưới không thể đến”

Khẩn trương nghiên cứu, đề xuất xây dựng quy định về từ chức

Hà Nội kiện toàn sắp xếp tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế lớn nhất từ trước tới nay

Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và những vấn đề cần hoàn thiện

Xây dựng Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 41/2012/NĐ-CP của Chính phủ

Tin xem nhiều

Mô hình tổ chức chính quyền địa phương một số nước trên thế giới

Nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong công vụ

Cơ quan nào có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật?

Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức: Một số thiết chế độc lập và chịu trách nhiệm

Một số nội dung về nguồn nhân lực và phương pháp đánh giá nguồn nhân lực

Phẩm chất nhà quản lý trong bối cảnh hội nhập

Châu Âu: Đường sắt cao tốc hút khách của hàng không

Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Tuấn
Trụ sở tòa soạn: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0804 6422, 0804 6543; Fax: 0804 6621 - Email: Tapchitcnn@moha.gov.vn
Bản quyền thuộc Tạp chí Tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ
Giấy phép xuất bản: Số 407/GP-BTTT ngày 27/9/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

®Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước là cơ quan báo chí của Bộ Nội vụ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.