11/06/2013 02:36
Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em

Trẻ em có vai trò quan trọng đối với gia đình và xã hội, sự phát triển của trẻ em có ý nghĩa sống còn đối với tương lai của dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy công tác này, trong đó có chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em. 

Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 05/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới, nêu rõ: “Đẩy mạnh xã hội hóa công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em theo hướng nâng cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư và các tổ chức chính trị - xã hội. Khuyến khích sự đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân cho các hoạt động và công trình dành cho trẻ em”. 

        Mặc dù còn có ý kiến khác nhau về nội hàm của khái niệm “xã hội hóa”, song có thể hiểu xã hội hoá công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, của toàn xã hội vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc trẻ em; mở rộng sự tham gia của các đối tác (chủ thể) xã hội với nhiều phương thức (phương pháp, hình thức, biện pháp) và mô hình để vừa phát huy tiềm năng trí tuệ, vật chất của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em, vừa tạo điều kiện mở rộng đối tượng thụ hưởng dịch vụ về bảo vệ, chăm sóc trẻ em, đặc biệt là trẻ em nghèo và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.1. Thực trạng xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở Việt Nam hiện nay

Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện chính sách xã hội hóa bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Luật Bảo vệ, chăm sóc trẻ em (năm 2004) quy định khá đầy đủ các quyền trẻ em, trách nhiệm của Nhà nước, gia đình, cộng đồng và các tổ chức xã hội trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em còn được quy định trong một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan như Nghị định số 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006 của Chính phủ về: “Khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng ngoài công lập” quy định nhiều ưu đãi để khuyến khích các cơ sở ngoài công lập thuộc lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, xã hội, dân số, gia đình, bảo vệ chăm sóc trẻ em; Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Đầu tư quy định chính sách đặc biệt ưu đãi đầu tư đối với các lĩnh vực, địa bàn có các hoạt động liên quan đến phát triển y tế, giáo dục.v.v… Thông qua sự điều hành của Chính phủ, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã được quan tâm.

Các phương tiện thông tin đại chúng tăng cường công tác truyên truyền về bảo vệ, chăm sóc trẻ em thông qua chương trình truyền hình vì trẻ em phát sóng hàng tuần, các chiến dịch truyền thông nhân Tháng hành động vì trẻ em... nhằm giúp mọi người hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Nhận thức của gia đình, nhà trường và xã hội về bảo vệ, chăm sóc trẻ em ngày càng được nâng cao, từ đó tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Nhiều gia đình, tổ chức xã hội, doanh nghiệp đã tích cực tham gia vào việc chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn thông qua việc nhận chăm nuôi đỡ đầu trẻ, nhận trẻ làm con nuôi, qua đó tạo cho trẻ một mái ấm gia đình, giúp trẻ phát triển toàn diện.

Nhiều phong trào được phát động nhằm tăng cường chất lượng học tập, giảng dạy trong trường học. Các chương trình học chính khóa và ngoại khóa trong nhà trường từng bước có sự đổi mới, lồng ghép nhiều nội dung liên quan đến bảo vệ, chăm sóc trẻ em như giáo dục kỹ năng sống, phòng HIV/AIDS, phòng chống tai nạn thương tích trẻ em...

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân như: Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Bảo vệ quyền trẻ em, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế tham gia tích cực trong hoạt động tuyên truyền giáo dục Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em. Đặc biệt, mạng lưới cán bộ Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên các cấp đã tham gia tích cực vào việc giáo dục trẻ em cá biệt tại thôn, xóm, tổ dân phố hoặc phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật; nhiều thành viên của các đoàn thể tham gia làm tuyên truyền viên xã/phường và cộng tác viên thôn, bản cho các chương trình, dự án bảo vệ, chăm sóc trẻ em như chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi, vận động nuôi con bằng sữa mẹ, phòng chống tai nạn thương tích trẻ em...; tham gia vào tổ hoà giải làm giảm sự tan vỡ của nhiều gia đình, phòng ngừa sự thiệt thòi có thể xảy ra đối với trẻ em, ngăn chặn các nguy cơ trẻ em bỏ nhà đi lang thang hoặc sa vào các tệ nạn xã hội khác.

Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ, đảng bộ cơ sở, sự phối hợp giữa chính quyền với các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và gia đình, cộng đồng, các chính sách, chương trình mục tiêu cho trẻ em ở địa phương, nhất là “Tháng hành động vì trẻ em” được duy trì hàng năm và ngày càng có hiệu quả thiết thực. Sự đóng góp công sức, nguồn lực của từng cơ sở, địa phương đã góp phần tích cực thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu Chương trình hành động vì trẻ em.

Nguồn lực cho công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em được tăng cường thông qua các chương trình của Chính phủ, sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và đặc biệt là sự hỗ trợ về nguồn lực của hệ thống Quỹ bảo trợ trẻ em từ trung ương đến địa phương. Từ khi thành lập (năm 1992) đến nay, Quỹ bảo trợ trẻ em các cấp đã vận động được trên 4.000 tỷ đồng và giúp đỡ cho 28 triệu lượt trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, hoàn cảnh đặc biệt vươn lên hòa nhập cộng đồng. Từ năm 2001, Quỹ bảo trợ trẻ em đã tổ chức phẫu thuật cho hơn 6.000 ca dị tật vận động; hỗ trợ cho hơn 3.000 trẻ em được phẫu thuật tim bẩm sinh và hơn 100 em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn sang Hàn Quốc phẫu thuật; xây dựng 34 Trung tâm phục hồi chức năng phục vụ gần 3.000 trẻ em khuyết tật, nạn nhân chất độc da cam; huy động phẫu thuật cho 20.735 ca trẻ em bị dị tật về mắt; 17.358 trẻ em hở môi hàm ếch; 600 trẻ em được tham gia dự án ngôn ngữ trị liệu; cấp hơn 25.000 suất học bổng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và xây dựng được 03 trường học, 266 lớp học cho hơn 30.000 trẻ em; 100% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số được trợ giúp pháp lý miễn phí khi gia đình có nhu cầu trợ giúp(1).

Hàng năm có trên 3 triệu lượt trẻ em nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được tặng quà, cấp học bổng nhân dịp “Tháng hành động vì trẻ em” và các dịp lễ, tết cổ truyền, tết Trung thu, ngày 1/6 hoặc trợ giúp đột xuất; trên 50 nghìn trẻ em được hưởng lợi từ Chương trình 6 triệu ly sữa do Quỹ bảo trợ trẻ em và Công ty cổ phần Vinamilk phối hợp thực hiện.

Đường dây Tư vấn và hỗ trợ trẻ em miễn phí trong toàn quốc thuộc Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em trước đây, nay thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, với sự hỗ trợ của Tổ chức Plan triển khai hoạt động từ năm 2004 đã tiếp nhận và xử lý trên 1,2 triệu cuộc gọi của trẻ em, các bậc cha mẹ, người chăm sóc trẻ em, các thầy cô giáo; gần 800 trường hợp được tư vấn, đánh giá và trị liệu tâm lý trực tiếp tại tổng đài. Ngoài chức năng giải đáp, cung cấp thông tin, chính sách, dịch vụ công này còn thực hiện các ca tư vấn về tâm lý xã hội, kỹ năng ứng xử với trẻ em. Các trường hợp trẻ em bị xâm phạm quyền hoặc bị tổn hại được can thiệp, giới thiệu kết nối các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc kịp thời, giúp các em thoát khỏi nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt hoặc tiếp tục bị tổn hại(2).

Từ năm 2009 đến nay, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các tổ chức quốc tế triển khai thử nghiệm hệ thống bảo vệ trẻ em và thúc đẩy kết nối cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em ở 125 xã thuộc 14 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cả nước. Các hoạt động thử nghiệm tập trung vào phát triển khung pháp lý, cơ chế, chính sách; xây dựng đội ngũ cộng tác viên, tình nguyện viên; xây dựng điểm công tác xã hội trẻ em ở các xã, trường học, bệnh viện; xây dựng văn phòng tư vấn cho trẻ em ở cấp huyện; xây dựng trung tâm công tác xã hội với trẻ em ở cấp tỉnh, thành phố; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ trong việc thực hành phòng ngừa, giảm thiểu, can thiệp trợ giúp trẻ em hòa nhập cộng đồng; thực hành can thiệp kết nối cung cấp dịch vụ liên tục bảo vệ trẻ em(3).

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em còn một số hạn chế, vướng mắc:

Hệ thống luật pháp, chính sách về xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em chưa đồng bộ, đầy đủ; một số quy định về cơ sở trợ giúp trẻ em và cơ sở bảo trợ xã hội đang có chồng chéo, mâu thuẫn về đối tượng, chức năng hoạt động giữa hai loại hình trợ giúp này.

Hiện nay Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em chưa quy định cụ thể cơ quan hướng dẫn tổ chức, bộ máy cho Qũy bảo trợ trẻ em, do vậy hoạt động của hệ thống Quỹ này ở địa phương các cấp gặp khó khăn.

Vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội chưa được cụ thể hóa nên các tổ chức này ít có tiếng nói trong quá trình xây dựng luật pháp, chính sách liên quan tới trẻ em.

Còn có hiện tượng lợi dụng xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em để trục lợi từ việc gây quỹ từ thiện, buôn bán trẻ em dưới hình thức nuôi con nuôi... Tình trạng trẻ em bị bỏ rơi, bị lạm dụng, xâm hại.. vẫn có chiều hướng gia tăng do nhận thức của cha mẹ, gia đình, xã hội đối với việc bảo vệ chăm sóc trẻ em chưa cao; việc hỗ trợ của các gia đình trong việc chăm nuôi đỡ đầu trẻ có hoàn cảnh đặc biệt còn chưa được phổ biến rộng rãi. Hiện tượng bạo lực trong trường học còn phổ biến; tại các cơ sở mầm non tư thục còn nhiều hiện tượng xâm hại trẻ em do nhận thức về quyền trẻ em của giáo viên còn hạn chế.

Một số địa phương chưa thực sự quan tâm nên nhiều xã/phường không có mạng lưới cộng tác viên làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, gây khó khăn trong việc theo dõi, nắm bắt tình hình, thu thập số liệu về bảo vệ, chăm sóc trẻ em, chưa kịp thời phát hiện, can thiệp các vụ việc vi phạm quyền trẻ em trên địa bàn...

2. Các giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Một là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng, nhà trường, gia đình, các doanh nghiệp... đối với sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Vận động toàn dân bảo vệ, chăm sóc trẻ em, tạo ra môi trường xã hội an toàn, lành mạnh; phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với giáo dục ở gia đình và giáo dục ngoài xã hội.                     

Hai là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; quy định rõ ràng, cụ thể hơn về điều kiện, phương thức xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói chung cũng như chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, hoạt động và đối tượng của cơ sở trợ giúp trẻ em và cơ sở bảo trợ xã hội nói riêng. Quy định rõ vị trí pháp lý của Quỹ bảo trợ trẻ em các cấp và cơ quan chịu trách nhiệm hướng dẫn Quỹ này ở địa phương. Bổ sung những chế tài xử lý nghiêm khắc trong Bộ luật hình sự đối với việc lợi dụng xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em để trục lợi.

Ba là, tăng cường củng cố loại hình công lập, lấy đó làm nòng cốt, mở ra nhiều hình thức cơ sở trợ giúp trẻ em, trung tâm công tác xã hội trẻ em ngoài công lập, tạo cơ hội cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được bảo vệ, chăm sóc.

Bốn là, khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội cho công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Cùng với việc tăng thêm và sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước, cần tranh thủ sự hỗ trợ giúp đỡ của các tổ chức trong nước và quốc tế, các nhà hảo tâm cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Đồng thời, quy định cơ chế kiểm tra, giám sát việc sử dụng nguồn tài chính cung ứng cho dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em.

Năm là, quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc ưu tiên bố trí quỹ đất dành cho việc xây dựng các công trình phúc lợi cho trẻ em; từng bước bố trí tăng nguồn ngân sách cho sự nghiệp chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em; xây dựng, phát triển đội ngũ cộng tác viên bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại cộng đồng; chú ý ưu tiên kinh phí đầu tư chương trình, kế hoạch về chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, các công trình cho trẻ em vùng sâu, vùng khó khăn, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em trong các gia đình nghèo.

Sáu là, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành nhằm phát huy các nguồn lực của Nhà nước và xã hội để chăm lo, bảo vệ trẻ em phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, đơn vị. Việc huy động nguồn lực chú trọng cả nguồn lực tài chính và nguồn lực con người; nhất là khi phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em, xây dựng hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em ở cấp cơ sở. Việc huy động các lực lượng xã hội tham gia bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở cấp cơ sở sẽ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Bảy là, tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội; giữa các ban, ngành, đoàn thể trong hoạt động chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, trong đó gia đình có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ trẻ em, cùng với nhà trường giáo dục hình thành nhân cách và trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết cho trẻ em phát triển toàn diện.

Tám là, phát triển các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại cộng đồng, xây dựng nguồn lực, khả năng dựa trên tiềm năng sẵn có của gia đình/ họ hàng và cộng đồng để đảm bảo sự an toàn và an sinh cho trẻ em. Tập trung xây dựng mạng lưới cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở cấp cơ sở, tại khu dân cư; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; xây dựng các điểm công tác xã hội với trẻ em ở cộng đồng, trường học, bệnh viện; văn phòng tư vấn công tác xã hội với trẻ em ở cấp huyện; trung tâm công tác xã hội với trẻ em ở cấp tỉnh.

Chín là, quản lý và hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức của Hội Bảo vệ quyền trẻ em, Hội Bảo trợ người khuyết tật và trẻ mồ côi; hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức của trẻ em như Đội thiếu niên tiền phong; các câu lạc bộ quyền trẻ em… Về lâu dài, Nhà nước cần thay đổi nhận thức và tư duy từ chỗ hỗ trợ cho Hội Bảo vệ quyền trẻ em các cấp hoạt động sang cơ chế mua các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em của các tổ chức hội hoặc các tổ chức phi chính phủ khác hoạt động trên lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em.

Mười là, tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế để tranh thủ học hỏi kỹ thuật, kinh nghiệm và các nguồn lực phục vụ cho các hoạt động sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc trẻ em; xây dựng các mô hình về bảo vệ, chăm sóc trẻ em... Các cơ quan quản lý nhà nước cần chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện hàng năm và 5 năm???? cơ sở vận động, thu hút các tổ chức quốc tế cùng phối hợp thực hiện, qua đó giúp cho tính bền vững của các hoạt động bảo vệ, chăm sóc trẻ em tốt hơn, hiệu quả hơn.

 Ghi chú:

(1) Báo cáo hoạt động Quỹ bảo trợ trẻ em Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

(2) Báo cáo kết quả hoạt động đường dây tư vấn, Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

     (3) Báo cáo công tác năm 2009, Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

ThS. Nguyễn Huyền Hạnh Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ
[6629]
Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ emChỉ thị số 20-CT/TW ngày 05/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới, nêu rõ: “Đẩy mạnh xã hội hóa công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em theo hướng nâng cao
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
TIN MỚI NHẤT
Sửa đổi, bổ sung quy trình công tác cán bộ: Bảo đảm chặt chẽ, thực chất hơn
Mít tinh kỷ niệm 41 năm ngày Quốc khánh nước CHDCND Lào
Nét mới thi nâng ngạch cán bộ, công chức cơ quan đảng, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
Các tin khác
Tin hoạt động Tổ chức nhà nước
(02/12/2016 02:12)
Mít tinh kỷ niệm 41 năm ngày Quốc khánh nước CHDCND Lào
Sáng nay 02/12/2016, tại Hà Nội, Học viện Hành chính quốc gia - Bộ Nội vụ đã tổ chức mít tinh chào mừng kỷ niệm 41 năm ngày  ...
Tin mới nhất

Khẩn trương ban hành quy định về bổ nhiệm lãnh đạo của đơn vị thuộc cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh

Hà Nội giảm 189 phòng, ban, đơn vị sự nghiệp

Kết quả công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016

Nhà nước Việt Nam vì quyền con người và quyền dân tộc tự quyết

Không ‘chúc Tết, phong bì’: Thêm một thông điệp về Chính phủ liêm chính

Các chỉ số đánh giá hiệu quả cung ứng dịch vụ hành chính công ở nước ta hiện nay

Đà Nẵng: 100% phường, xã tiếp nhận liên thông văn bản điện tử

Tin xem nhiều

Đánh giá cán bộ, công chức

Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác cán bộ nữ

Những vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay về “tự bảo vệ” Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Chế định hợp đồng trong Luật Viên chức

Bài học về thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám và vận dụng vào thực tiễn hiện nay

Quản lý nhà nước về công tác thanh niên hiện nay

Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2015-2020 đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Tuấn
Trụ sở tòa soạn: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0804 6422, 0804 6543; Fax: 0804 6621 - Email: Tapchitcnn@moha.gov.vn
Bản quyền thuộc Tạp chí Tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ
Giấy phép xuất bản: Số 407/GP-BTTT ngày 27/9/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

®Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước là cơ quan báo chí của Bộ Nội vụ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.