29/06/2018 03:10
Hè phố - tiếp cận quản lý sự thay đổi của chính quyền đô thị

Nhà nước là một thiết chế công quyền với sự phân công chức năng, một khung thể chế ổn định tương đối, một hệ thống tổ chức và nguồn lực tương xứng ở một giai đoạn nhất định. Quản lý nhà nước là một trong những chức năng của tổ chức nhà nước với những yếu tố cấu thành. Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, sự phân công chức năng ở mọi cấp theo chiều dọc đã được Hiến pháp quy định. Bài viết phân tích một số yếu tố của thiết chế hành chính đô thị - một hình thái chính quyền địa phương, vai trò của nó trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng của Đảng và chính sách của Nhà nước.

Hàng quán ở nhiều đô thị lấn chiếm hết vỉa hè. Ảnh: internet

1. Khái lược

Đời sống đô thị luôn có vị trí quan trọng trong lý luận về quản lý nhà nước. Đô thị là trung tâm lan tỏa về đời sống kinh tế và luôn đi trước một bước về sự phát triển so với phần còn lại về mặt hành chính lãnh thổ. Cùng với các hoạt động kinh tế, tính chất đặc trưng về lối sống, sự thích ứng cái mới, về lề thói sinh hoạt cũng là những vấn đề mà các chuyên gia, các nhà quản lý cần có sự nghiên cứu thấu đáo. Không thể dùng chung kiến thức quản lý để đặt nó cho mọi thực thể lãnh thổ vốn đã có những khác biệt về lịch sử, văn hóa và tiềm năng... Nghĩa là, sẽ có sự khác nhau về kỹ năng, kinh nghiệm, giải pháp, phương pháp quản lý và xử lý tình huống có tính đặc trưng của đô thị so với các không gian kinh tế - xã hội khác. Đô thị là vùng dân cư năng động và đa dạng hơn nông thôn do tính chất hội tụ nguồn lực khoa học, tiềm năng kinh tế và các loại hình dịch vụ, sinh hoạt của nó, vì vậy, các kỹ năng quản lý ở đô thị có những khác biệt.

Đô thị có những đặc điểm mang tính ưu thế từ nhiều giác độ. Đô thị là nơi chính quyền thường lựa chọn làm “tổng hành dinh” cho bộ máy công quyền. Khi kinh tế hàng hóa phát triển thì các trung tâm giao dịch xuất hiện - cội nguồn phát sinh đô thị. Đô thị cũng từ nông thôn mà ra, nhưng bởi những con người năng động, có khả năng kết nối, có kiểu sản xuất không phải chủ yếu để tiêu dùng, mà để trao đổi. Họ muốn ổn định thì phải định cư. Số cư dân tăng lên dần dần mà hình thành các cụm tập trung, riêng biệt tương đối, trở thành cộng đồng sản xuất phi nông nghiệp… Từ đó hình thành đơn vị hành chính độc lập như các thị tứ, thị trấn, thành phố với các cấp độ khác nhau. “Thành thị”  là một một thuật ngữ ra đời để chỉ các cộng đồng dân cư gắn liền với sự xuất hiện của quá trình tách lao động nông nghiệp thành tầng lớp “phi nông nghiệp” với các hoạt động dịch vụ và sản xuất để giao dịch.

Đô thị thường có những đặc điểm đặc trưng: không gian lãnh thổ hẹp và mức độ tập trung dân cư cao; là nơi thu hút lao động làm gia tăng dân cư và dân số đô thị; tập trung nguồn lực chất lượng cao; dịch vụ đô thị phục vụ cư dân đô thị và số lượng không nhỏ lao động vãng lai, tạm thời từ nông thôn ra… vừa là quy luật của sự phát triển, đồng thời tạo sức ép không nhỏ cho quản lý.

“Đô thị” chính là thành thị, nhưng ở đó có trung tâm đầu não của bộ máy công quyền - bộ máy quản lý nhà nước. Bộ máy đó có thể quản lý một vùng lãnh thổ bao gồm cả cư dân nông nghiệp và phi nông nghiệp. Nhưng tại đô thị, kinh tế dịch vụ chiếm tỷ trọng ưu thế. Như vậy, các đô thị có lịch sử theo trật tự là “thị” có trước (chợ búa, trung tâm giao dịch hàng hóa); sau đó mới được chọn để thành “đô” – trung tâm hành chính của công quyền. Xu thế đó mang dấu ấn của sự phát triển khách quan.

2. Quản lý hành chính đô thị

Quản lý đô thị ở đây là nói về quản lý hành chính đô thị, để phân biệt với các hình thức quản lý chuyên ngành, chuyên môn của đô thị. Cần nói thêm về quản lý hành chính nhà nước và quản lý chuyên ngành của nhà nước cũng như mối quan hệ giữa chúng. Quản lý hành chính nhà nước thuộc về vai trò của nhà nước. Quản lý hành chính đô thị, đó là các định chế hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm hành chính quy định về tổ chức nguồn lực có chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ tương ứng với mỗi cấp theo quy định. Quản lý chuyên ngành là quản lý của các đơn vị bên trong của cấu trúc tổ chức hành chính, giúp cho quản lý hành chính được bảo đảm về mặt chuyên môn. Về quan hệ trong quản lý, nếu quản lý hành chính phải dựa vào chuyên môn gắn với từng đối tượng từ các nhà quản lý có chuyên môn (như các phòng, sở) để đưa ra các quyết định nhà nước một cách chính xác, hiệu quả, thì quản lý về chuyên môn, trên cơ sở những kiến thức chuyên ngành và vị trí tư vấn, có vai trò trợ giúp để bảo đảm chính xác, chất lượng và hiệu quả đối với quản lý hành chính. Về vị trí, quản lý hành chính giữ vai trò hoạch định, điều hành chính sách, trong khi quản lý về chuyên môn có vai trò nghiên cứu, tư vấn xử lý nghiệp vụ để đưa ra các tư vấn cho chính sách và thực thi chính sách liên quan đến từng lĩnh vực. Về thẩm quyền, quản lý hành chính nhà nước là cơ quan hoạch định chính sách, trong khi quản lý chuyên môn là cơ quan giúp về chuyên môn, khoa học, về đường hướng xử lý các tình huống của quản lý. Về xu hướng, quản lý nhà nước có tính ổn định cao (không phụ thuộc vào rộng hẹp, tách, nhập, thêm bớt, hoán đổi vai trò…), trong khi quản lý về chuyên môn có thể thay đổi, đột biến (bị thu hẹp, bị xóa bỏ thay bằng một tổ chức dịch vụ xã hội ngoài nhà nước thực hiện). Sở Giao thông không nhất thiết phải biên chế trực tiếp người làm quy hoạch, đo đạc, rải nhựa… mà có thể thuê dịch vụ là một ví dụ. Đây là vấn đề gắn với nguyên tắc của quản lý (không phải nhà nước làm mọi thứ) và liên quan đến tiến trình giảm thiểu số lượng những người nhà nước phải trả lương.

3. Quản lý hành chính đô thị qua lăng kính quản trị hè phố

Đô thị là một kết cấu phức hợp của quản lý. Gần đây, thực trạng yếu kém của quản lý trật tự đô thị đã ảnh hưởng tới giao thông nội đô, thậm chí đảo lộn một số sinh hoạt đô thị. Nhiều chiến dịch “ra quân” của chính quyền cơ sở có kết quả không tương xứng với kỳ vọng và chi phí. Với chiến dịch trọng điểm của các đô thị, nhất là ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh về chỉnh trang đô thị đã bộc lộ những cách làm nóng vội, ứng phó; cách nghĩ, cách chỉ đạo, thậm chí là quan điểm của các nhà quản lý có những biểu hiện mâu thuẫn. Quan điểm cảm tính biểu hiện là: thấy hoạt động A cản trở hoạt động B đang là điểm nóng của quản lý thì “dẹp” những gì thuộc A. Ví dụ, hàng rong, buôn bán vỉa hè cản trở giao thông, mất đường cho người đi bộ thì cấm hàng rong, giải tỏa các tụ điểm buôn bán. Vô hình chung cách quản lý như vậy đã trái với đặc trưng của sinh hoạt đô thị và xu hướng đồng bộ hóa, khoa học hóa chỉnh trang đô thị.

Hè phố là một cấu trúc vật chất đô thị. Nó có chức năng lịch sử và chức năng hiện đại. Biểu hiện của nó qua một số dấu hiệu đặc trưng: Thứ nhất, từ giác độ thiết kế giao thông, phần không gian hè phố là cấu trúc không thể thiếu cho đường giao thông nội đô, gắn liền với chức năng gọi là hành lang an toàn. Thứ hai, từ giác độ của kiến trúc đô thị thì hè phố không chỉ làm chức năng của giao thông thuần túy. Hè phố phải bảo đảm cả mặt văn hóa (khi chọn vật liệu để lát, chọn loại đèn chiếu sáng, loại cây xanh phù hợp…); nó không bị giới hạn không gian, nhất là chiều rộng theo chức năng hành lang an toàn, mà còn tuân thủ quy luật xây dựng đô thị. Có những vỉa hè hàng chục, thậm chí hàng mấy chục mét chiều rộng theo quy chuẩn của xây dựng đô thị. Nghĩa là, nó phải thỏa mãn cả quy định của Luật giao thông và Luật xây dựng. Thứ ba, hè phố như lịch sử đô thị nước ta tồn tại từ khi chưa có Luật giao thông, nhưng nó đã thỏa mãn những cái tất yếu phải có. Đó là dải an toàn, là nơi để đi bộ, đồng thời là nơi giao dịch, buôn bán nhỏ. Như thế, tính “kiêm nhiệm chức năng” của hè phố đã có tuổi đời gắn với lịch sử. Các nhà quản lý hành chính phải tính tới đặc trưng đó trong xây dựng chính sách. Người đô thị sống được là nhờ trao đổi với xã hội. Họ chỉ sống bằng giao dịch, sản xuất những gì cần trao đổi (nhưng không phải là lương thực, thực phẩm thiết yếu). Hè phố là nơi tiếp nối hoạt động giao dịch của các thương nhân đô thị và những người buôn bán vãng lai. Giao dịch đô thị vì thế vừa có vãng lai, di động, vừa có những tụ điểm do tồn tại lâu mà thành. Thực tế cho đến nay, quá trình đô thị hóa mạnh mẽ làm cho đô thị càng hiện đại, thiết kế kiến trúc càng đàng hoàng, to đẹp thì các vỉa hè càng khẳng định vai trò đa chức năng của nó. Quan điểm vỉa hè chỉ để dành cho người đi bộ trở thành phiến diện, phi lịch sử cũng như chưa chứa đựng quan điểm phát triển bền vững.

Không gian hè phố rộng - hẹp tùy thuộc lịch sử hình thành đô thị (cũ hay mới; phố cổ hay phố hiện đại…) và luôn luôn vận động. Về nguyên tắc quản lý phải thích ứng như một quy luật khách quan (nhà nước là chủ thể quản lý, nhưng là người phục vụ công dân). Như vậy, quản lý đáp ứng sự phát triển xã hội, đồng thời có năng lực nhận thức cho tương lai phát triển của đối tượng phục vụ; từ đó định ra chính sách một cách chủ động. Khi chức năng xã hội của hè phố trong các đô thị như một nhu cầu, trong đó có chức năng giao dịch đã định hình từ lâu đời như một xu thế khách quan, thì quản lý không thể làm theo ý chí chủ quan nhằm duy trì cái này, thủ tiêu cái khác. Nếu chỉ vì một số người do thiếu ý thức buôn bán tràn ra vỉa hè, hay ý thức người dân chưa cao nên gây mất trật tự hè phố là khiếm khuyết, thì đó có thể là khiếm khuyết về nhận thức trong quản lý hành chính đô thị. Từ thực tiễn khách quan, nếu  chính quyền đô thị có kế hoạch chấn chỉnh lại vỉa hè, nhưng lại viện ra lý lẽ của cái gọi là “dẹp vỉa hè để trả lại đường cho người đi bộ” trong khi vỉa hè đã khoác trên nó những chức năng đa dạng khác, thì đó chỉ mang tính đối phó với các chức năng vốn có của vỉa hè. 

4. Thực trạng và yêu cầu quản lý sự thay đổi quản lý vỉa hè đô thị qua hai thành phố lớn nhất cả nước

Về thực trạng, đã xuất hiện một số khu vực vỉa hè trong tình trạng không thể kiểm soát. Tình trạng không thể kiểm soát trong quản lý đô thị là hiện tượng mà ở đó những quy định, quy chế pháp lý được ban hành nhưng dường như không còn hiệu lực, mất khả năng điều chỉnh hành vi của công dân và tổ chức. Những hình ảnh phản cảm như bày đồ bừa bãi trên hè phố; chiếm dụng tự do lối đi bộ, xả rác tùy tiện; những tình huống đáng lo ngại khi người đi bộ tràn xuống lòng đường cùng lưu thông với mọi phương tiện cơ giới… Bên cạnh đó, hiện tượng các lực lượng công quyền (hoặc được ủy quyền), tổ chức kiểm tra, chấn chỉnh hè phố bằng cách dẹp bỏ, tịch thu đồ dùng, vật liệu, hàng hóa trên vỉa hè thuộc diện vi phạm cũng không mang lại kết quả như mong đợi; nghĩa là việc tuân thủ chỉ mang tính đối phó, còn tình trạng lộn xộn, nhếch nhác hè phố vẫn không thay đổi. Khi chưa có giải pháp tổng thể, quy định chặt chẽ thì việc chấp hành chỉ mang tính chủ quan, cảm tính. Tính chất thiếu minh bạch trong đánh giá, truy xét hệ lụy trách nhiệm từ các nhà chức trách và công dân đô thị, với nhiều lý do, lý lẽ viện dẫn, bao biện đã làm tê liệt các quy định, coi nhờn công quyền.

Về phía cơ quan quản lý, ở cơ sở thường nêu lý do về lực lượng, trang bị thiếu thốn; sự thiếu ý thức và nể nang về hoàn cảnh của người dân… Trong khi đó, những người vi phạm thường cho rằng có sự thiếu công bằng của nhà chức trách trong việc cho phép, chế tài, thậm chí họ phải trả tiền như cách thỏa thuận và chấp nhận rủi ro.

5. Quan điểm và giải pháp chấn chỉnh quản lý đô thị

Thứ nhất, về nhận thức. Trong tiến trình phát triển hướng tới trật tự, văn hóa, văn minh đô thị, quan điểm quản lý hè phố cần có sự điều chỉnh phù hợp. Một là, người đi bộ phải có không gian thích hợp, phù hợp với quyền được an toàn khi đi lại; nhưng không gian thích hợp không có nghĩa là vỉa hè chỉ dành cho người đi bộ. Hai là, cần nhận thức và thừa nhận tính chất đa chức năng của hè phố đô thị. Ngoài chức năng giao thông, ngoại trừ những không gian hạn hẹp do hiện trạng chưa thể thay đổi, vỉa hè còn có chức năng cung ứng môi trường giao dịch, nhất là một số dịch vụ sinh hoạt thiết yếu, tiện lợi. Cung ứng ở đây trước hết là không gian đáp ứng nhu cầu nhất định, thiết yếu. Có những khu vực, những nơi chỉ có thể có những hoạt động lúc sáng sớm, lúc buổi chiều hay về đêm khuya… Nghĩa là ngoài việc ưu tiên cho giao thông đi lại, các chức năng khác có thể tham gia có điều kiện. Đây không phải là quan niệm mới vì hai cơ sở: tiền lệ lịch sử đô thị (“thị” có trước và “thành” có sau) và tính phổ quát quốc tế. Giao dịch buôn bán nhỏ vỉa hè đã có ở nước ta như trên đã đề cập. Tính phổ biến quốc tế thể hiện sự hiện diện của giao dịch vỉa hè có ở khắp mọi nơi tạo ra sự sầm uất đô thị rõ rệt.

Việc tiếp cận vấn đề chưa thấu đáo, thiếu đồng bộ có thể xuất hiện chủ trương sai, cách làm trái với quy luật của sự phát triển. Một số quản trị gia đưa ra cách, hay tư duy chính sách, theo đó cần giúp những người kinh doanh vỉa hè học một nghề để họ không phải tiếp tục theo đuổi việc buôn bán trên hè phố(1) liệu có phải là đúng hướng chỉnh trang đô thị và thực thi chính sách về nguồn nhân lực? Hoặc cho rằng cần hạn chế thu phí vỉa hè vì mục tiêu ngân sách(2)… Những cách hiểu như vậy hoặc chưa thấy tính khách quan của kinh tế vỉa hè như một phần của sinh hoạt đô thị, hoặc thiếu tính toàn diện, khoa học. Vậy nó là khách quan và có điều kiện ở những nơi có thể tổ chức được thì việc thay đổi nghề nghiệp để triệt tiêu buôn bán nhỏ là hai mặt khác biệt cần phải cân nhắc. Nó khác với việc chuyển đổi nghề nghiệp cho những người không có khả năng, hoặc không muốn theo đuổi việc buôn bán nhỏ vì lý do chủ quan của họ (bươn trải nhưng thiếu điều kiện và kỹ năng tiếp cận nhu cầu).

Quan điểm “không cho thuê vì mục tiêu ngân sách”, có vẻ chứa đựng yếu tố hợp lý; nhưng còn cần giải bài toán về văn hóa hè phố và giải pháp khả thi. Cơ quan công quyền làm chính sách không thể thiếu quyết tâm chính trị, nhưng cái chủ quan phải tôn trọng cái khách quan. Đó là kinh doanh hè phố vốn là một nhu cầu, từ đó trở thành một kiểu sinh hoạt đô thị. Nó chỉ có thể thay đổi chứ không phải bị triệt tiêu. Thay đổi theo sự phát triển cơ chế, của điều chỉnh nhu cầu và quan trọng hơn là tư duy mới cho kiểu quản lý đáp ứng xu thế phát triển của quá trình đô thị hóa theo hướng phát triển bền vững.

Tạo nghề cho một bộ phận lao động với hình thức buôn bán nhỏ trên hè phố không phải là không cần thiết, nhưng chỉ trong điều kiện đã khảo sát, điều tra nhu cầu, quy hoạch không gian để nhận biết những người không đủ điều kiện môi trường cạnh tranh và họ sẽ chọn con đường hồi hương hoặc học một nghề mới để thích ứng với đời sống đô thị. Tạo nghề để triệt tiêu kinh tế hè phố là trái với quy luật sống của xã hội đô thị.

Thứ hai, về chủ trương cần thực sự thiết lập trật tự quản lý đô thị theo hướng pháp quyền, quy củ, công khai và bình đẳng thay thế kiểu quản lý tùy nghi, cảm tính, tiêu cực. Thông thường, quản lý đô thị theo hướng tích cực, văn minh, pháp quyền bao giờ cũng khó khăn hơn kiểu quản lý tùy nghi và cảm tính. Từ thực tế cho thấy, ở nơi nào quản lý lỏng lẻo, dung túng tiêu cực thì ở đó việc chấn chỉnh, tình trạng vỉa hè càng rối rắm và ngổn ngang.

Thứ ba, về quy trình cần có sự cân nhắc bước đi, lộ trình. Không nên nóng vội, chạy theo áp lực dẫn đến xáo trộn quy trình, phản cảm về giải pháp; chưa quy hoạch tính toán tổng thể chức năng nói chung, công năng cho từng khu vực nói riêng đã ào ào giải tỏa, cưỡng chế, tịch thu, tháo dỡ. Chủ trương giải tỏa đã nêu rõ là để “giành quyền cho người đi bộ”, nhưng ngay sau đó đã tổ chức cho thuê, tính giá cả một cách vội vã. Cách làm đó tạo sự phản cảm của dư luận đối với quản lý nhà nước là sự khác biệt giữa tuyên ngôn và thực hiện, giữa nói và làm. 

Quản lý đô thị là một thuật ngữ của hành chính công ở tầm lý luận, tuy vậy, biểu hiện của nó nhiều khi lại rất đơn giản về hành vi, cách thức, hình ảnh… Ví dụ: vạch một ranh giới phân chia hoạt động nào đó; cắm một cái biển cho phép hay không, sự hiện diện của một nhân viên chính quyền như biểu trưng của sự kiểm soát… Nhưng trong quản lý đô thị thường thấy những hiện tượng tầm thường hóa chủ trương hay chính sách của quản lý đô thị. Tầm thường hóa hay cách phản ứng cảm tính của chính quyền: liên tục nhắc nhở, tuyên truyền, phân vạch ranh giới, nhưng dường như chỉ làm cho đủ, cho có, còn hiện trạng thì không thay đổi được bao nhiêu.

Qua những đợt chỉnh trang đô thị ở một số thành phố đầu năm 2017 cho thấy, đã có một số bước đi phù hợp, xã hội đồng tình về chủ trương, nhưng còn bộc lộ một số hạn chế về nhận thức, nguyên tắc, phương châm, phương pháp tổ chức thực hiện. Quản lý không cho phép tạo sự chủ quan của việc ban hành và thực thi chính sách mới. Nó phải có khoảng trống thời gian cho cả hai phía chủ thể và đối tượng. Cơ quan công quyền muốn thực thi chính sách mới phải có sự chuẩn bị về nhận thức, nguồn lực và phương tiện; xã hội muốn tuân thủ cũng phải có thời gian cho sự thay đổi về mặt tâm lý, điều kiện cho sự thích nghi. Thực tiễn cho thấy, chính sách là rất quan trọng, là linh hồn của quản trị xã hội. Nhưng có chính sách là chưa đủ, chưa đảm bảo kết quả của quản lý xã hội, mà cần các khâu tiếp theo là thực thi, tổ chức thực hiện, được thể hiện ra một cách trực tiếp ở năng lực, kinh nghiệm, uy tín, phẩm chất, đạo đức của người thực thi công vụ. Một chính sách tốt nhất cũng cần sự chuẩn bị của mọi phía một cách cần thiết mới mang lại hiệu quả. Chính sách bao giờ cũng thể hiện sự bình đẳng một cách tương đối. Nghĩa là nó có thể thuận lợi cho cộng đồng này, nhưng lại bất lợi, khó khăn cho cộng đồng khác, hoặc chính sách dành sự thuận lợi cho công quyền và đẩy sự khó khăn cho đối tượng - một bộ phận xã hội.

Về phương châm, các bước đi phải bảo đảm khoa học, hợp lý, không xáo trộn. Một là, không gian đi bộ phải được ưu tiên, chấn chỉnh; với bước này không nên trộn chính sách, chỉ điều chỉnh có tính ứng phó khi bản quy hoạch, kế hoạch, chủ trương chưa được phê duyệt. Hai là, khi đã có chính sách, cần tuyên truyền rộng rãi, công khai, giải thích, đàm phán nếu cần thiết. Chính sách ở đây là: chỉnh trang hè phố, sắp xếp lại trật tự đô thị; thiết lập cơ chế quyền và nghĩa vụ một cách khách quan, công khai, minh bạch và bình đẳng. Nếu tổ chức chỉnh trang với mục tiêu dành lại không gian cho người đi bộ, rồi ngay sau đó lại cho thuê thì đó là một sự tắc trách của quản lý, sự không đàng hoàng của công quyền. Không đàng hoàng ở chỗ, đô thị là không gian công, được giao cho chính quyền quản lý. Tuy nhiên, quản lý là một khoa học, không thể tùy tiện một cách chủ quan, cảm tính. Đã là khoa học thì cần tính toán, phải có dự báo hiện tại và tương lai những tác động thay đổi đến lợi ích cộng đồng.

Thứ tư, về giải pháp: cần thiết lập kỷ cương về trách nhiệm gắn với các vị trí chức trách của mỗi cá nhân những người được giao quyền và công cụ quản lý. Giải pháp cần hướng tới tính khả thi, hiệu quả, công bằng, minh bạch và có lộ trình.

Một là, không gian cho người đi bộ phải được ưu tiên, thực hiện vô điều kiện. Đây là việc thiết yếu xác lập chức năng cố hữu, căn bản của hè phố về giải không gian an toàn giữa con người và các phương tiện giao thông, đồng thời là phần không gian cho người đi bộ ở đô thị.

Hai là, muốn sử dụng hợp lý, hiệu quả hè phố cần có giải pháp quy hoạch tổng thể ngoài việc dành quyền cho người đi bộ, trước khi triển khai các bước tiếp theo. Quy hoạch tổng thể phải trả lời được các câu hỏi: nơi nào chỉ dành cho người đi bộ, do chật hẹp hoặc do là một khu vực nào đó đường phố có chức năng trung tâm thương mại truyền thống hạn chế lưu thông phương tiện; nơi nào có thể bố trí, sắp xếp cho buôn bán hè phố; nơi nào không được phép do yêu cầu về ngoại giao, an ninh hay cơ quan công quyền…

Ba, thực hiện công khai, minh bạch, công bằng khi ở đâu cho phép tồn tại hình thái kinh tế hè phố. Giải pháp này làm cơ sở xóa bỏ tiêu cực từ phía chính quyền và người dân - nguyên nhân căn bản làm cho trật tự đô thị bị đóng băng về cải thiện kỷ cương phép nước. Công khai chính là giải pháp phổ biến, tuyên truyền tốt nhất cho công chúng. Phải quán triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm phương châm của người quản lý: không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng.

Bốn là, phải đặt ra lộ trình cho sự thay đổi. Quản lý không nên và không được phép tạo ra sự bất thường về tâm lý và sự chuẩn bị cho việc tuân thủ pháp luật của nhân dân cũng như thực thi pháp luật của công chức.

Năm là, cần có chế tài nghiêm, công bằng, không khoan nhượng khi mọi thứ đã được tiếp thu từ phía tổ chức và công dân. Kỷ cương lỏng lẻo, vận hành tiêu cực, giải quyết công việc còn nể nang, thân quen, quyền hành sẽ làm rối loại kỷ cương, xã hội trì trệ.

Đô thị là một thực thể hành chính lãnh thổ đặc trưng về nhiều phương diện, là thước đo sự năng động của chính sách, là tiêu chí đánh giá sự thích ứng với mọi áp lực từ sự thay đổi. Đô thị với vị trí của nó, phải đóng vai trò đầu tàu phát triển của cả nước, của một địa phương. Sự chật chội của không gian đô thị buộc nhà quản lý có tính toán theo cách chắt chiu từng dải đường, mét đất. Kinh tế đô thị ngoài những công xưởng, doanh nghiệp còn là kinh tế thương mại, buôn bán phục vụ dân sinh. Đó là cả dây chuyền của sự lệ thuộc vào nhau của các đối tượng thuộc cư dân đô thị. Người thành phố không có tâm lý địa phương, khép kín như người nông thôn, nghĩa là không thể xuất hiện tâm lý chiếm hữu không gian bên ngoài ngôi nhà của mình, mà phải chấp nhận sống chung với cộng đồng. Đó chính là đặc điểm của đời sống đô thị. Hiến pháp đã quy định về quyền tự do đi lại và mưu sinh của công dân được thể hiện rõ nhất ở các thành phố, nhất là các thành phố có vị trí trung tâm kinh tế của cả nước.

GS.TS. Nguyn Hữu Khiển - Nguyên Phó Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia

-----------------------------

Ghi chú:

(1) Tham khảo: Trang điện tử báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, ngày 19/4/2017.

(2) Tham khảo: cuoituan.tuoitre.vn/tin/van-de-su-kien/20170620/nen-thu (15/6/2017).

Tài liệu tham khảo:

1. Hiến pháp năm 2013

2. Luật giao thông.

3. Nghị định số 186/2004/NĐ-CP ngày 05/11/2004 của Chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. 

4. Thông tư số 04/2008/TT-BXD ngày 20/02/2008 của Bộ Xây dựng hướng dẫn quản lý đường đô thị.

5. https://luatminhkhue.vn › Dân sự ›

6. vietnamnet.vn/.../gia-cho-thue-via-he-sai-gon-duoc-tinh-theo-tung-tuyen-duong-37926...

tcnn.vn
[375]
Hè phố - tiếp cận quản lý sự thay đổi của chính quyền đô thịHàng quán ở nhiều đô thị lấn chiếm hết vỉa hè. Ảnh: internet 1. Khái lược Đời sống đô thị luôn có vị trí quan trọng trong lý luận về quản lý nhà nước. Đô thị là trung tâm lan tỏa về đời sống kinh tế và luôn đi trước một bước về sự
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
TIN MỚI NHẤT
Giá trị lý luận, thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Quản lý viên chức chuyên ngành khoa học và công nghệ theo Luật Viên chức năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Bình Định: Tăng cường sử dụng thư điện tử công vụ
Các tin khác
Tin hoạt động Tổ chức nhà nước
(17/09/2018 02:57)
Bộ Nội vụ khai giảng Lớp Bồi dưỡng năng lực, kỹ năng lãnh đạo, quản lý cấp vụ
Thực hiện Quyết định số 1901/QĐ- BNV ngày 22/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, sáng ngày 17/9/2018, tại Học viện Hành chính  ...
Tin mới nhất

Kiên Giang: Nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức, người dân và doanh nghiệp về lợi ích của việc xây dựng chính quyền điện tử

Lạng Sơn: Nỗ lực nâng chỉ số ICT

Nhận diện hành vi gây rối, chống phá ở nước ta hiện nay và những giải pháp phòng, chống

Quý III/2018, Lâm Đồng giảm 23 đơn vị sự nghiệp công lập

Đẩy mạnh bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với CBCCVC

Nguyên tắc kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh với vị trí việc làm trong quản lý cán bộ, công chức ở nước ta

Nghệ An: Lấy ý kiến đánh giá mức độ hài lòng tại bộ phận một cửa

Thông tin tuyên truyền

Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Tuấn
Trụ sở tòa soạn: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0804 6422, 0804 6543; Fax: 0804 6621 - Email: Tapchitcnn@moha.gov.vn
Bản quyền thuộc Tạp chí Tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ
Giấy phép xuất bản: Số 407/GP-BTTT ngày 27/9/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

®Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước là cơ quan báo chí của Bộ Nội vụ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.