Thực tiễn - Kinh nghiệm
Bước đột phá trong thi tuyển chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý tại thành phố Đà Nẵng

1. Thi tuyển chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý là yêu cầu của thực tiễn

Trong những năm qua, để quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC), viên chức, Thành ủy, UBND thành phố Đà Nẵng đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ CBCC học tập, phấn đấu, rèn luyện và trưởng thành, trong đó có nhiều cơ chế, chính sách đột phá như: chính sách đãi ngộ đối với CBCC có trình độ cao tự nguyện đến làm việc lâu dài tại thành phố; chính sách đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ ở nước ngoài theo Đề án 393 và đào tạo bậc đại học theo Đề án 47 cho học sinh các trường phổ thông trung học (nay là Đề án Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, gọi tắt là Đề án 922); chính sách nghỉ hưu, thôi việc trước tuổi; chính sách đào tạo, bồi dưỡng... Nhìn chung, đội ngũ CBCC đã có những bước phát triển về chất; việc sử dụng đội ngũ có tiến bộ như bố trí, tạo môi trường làm việc, luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác được tiến hành thường xuyên; chú trọng chất lượng khi tuyển dụng cạnh tranh; kết hợp hài hòa giải pháp sử dụng, chú ý đến những nhân tố trẻ và có phẩm chất, năng lực. Hầu hết cán bộ lãnh đạo, quản lý của thành phố Đà Nẵng được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ và được rèn luyện, trưởng thành qua thực tiễn công tác.

Chính quyền, đội ngũ công chức cơ quan hành chính nhà nước là những người cần chú trọng và làm tốt công tác dân vận

Thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”, Quyết định số 290-QĐ/TW, ngày 25/02/2010 của Bộ Chính trị và các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Ban Cán sự đảng Chính phủ luôn chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo thể chế hóa và thực hiện công tác dân vận, tạo sự chuyển biến trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp, góp phần ổn định tình hình đất nước, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Xác định vị trí việc làm - giải pháp mấu chốt để tuyển dụng công chức theo vị trí việc làm và thực hiện tinh giảm biên chế

Đẩy mạnh cải cách công vụ, công chức nhằm xây dựng một nền công vụ chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch,hiệu lực, hiệu quả là nội dung lớn trong chủ trương cải cách của Đảng và Nhà nước ta. Một trong những nội dung cốt lõi của việc cải cách chế độ công vụ, công chức là tiến hành xác định vị trí việc làm trong các cơ quan hành chính nhà nước (HCNN). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước đã xác định một trong những giải pháp để tiếp tục đẩy mạnh việc cải cách chế độ công vụ, công chức là “xác định rõ vị trí, cơ cấu và tiêu chuẩn chức danh công chức trong từng cơ quan của Nhà nước để làm căn cứ tuyển dụng và bố trí sử dụng cán bộ, công chức… trên cơ sở xây dựng chức danh, tiêu chuẩn, vị trí việc làm và cơ cấu công chức, từng cơ quan nhà nước rà soát lại đội ngũ công chức, đối chiếu với tiêu chuẩn để bố trí lại cho phù hợp”[1].

Như vậy, xác định vị trí việc làm là nội dung quan trọng để thực hiện cải cách chế độ công vụ, công chức.Bản chất của việc xác định vị trí việc làm là xác định trong một cơ quan, đơn vị có bao nhiêu vị trí việc làm và cần bao nhiêu người với những tiêu chuẩn, năng lực gì để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị đó. Qua xác định vị trí việc làm, sẽ giúp cơ quan, đơn vị phát hiện những chồng chéo về nhiệm vụ của các vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức; phục vụ hiệu quả sắp xếp lại đội ngũ công chức. Như vậy, qua xác định vị trí việc làm các cơ quan, đơn vị sẽ có thể tuyển dụng, sắp xếp, bố trí công chức phù hợp với vị trí việc làm, loại bỏ những công chức không đáp ứng yêu cầu công việc, góp phần thực hiện tinh giản biên chế.

Bồi dưỡng theo chức danh, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới

Việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay còn có những bất cập trước sự vận động và phát triển của thực tiễn, như đào tạo bồi dưỡng chung cho nhiều đối tượng,... Hơn nữa sự thay đổi công việc, vị trí chức vụ, nên người cán bộ có sự thiếu hụt kiến thức và kỹ năng. Do vậy, bồi dưỡng theo chức danh cho đội ngũ cán bộ là góp phần bù đắp những thiếu hụt, bổ sung những tri thức mới, sát hợp, giúp cán bộ đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Hoạt động bồi dưỡng theo chức danh có đặc thù về nội dung, kết cấu chương trình. Để bảo đảm hiệu quả, cần xác định đúng đối tượng, chủ thể bồi dưỡng; cần lựa chọn phương pháp áp dụng phù hợp, tăng cường cơ sở vật chất- kỹ thuật đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập.

Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ nữ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm chăm lo đến vấn đề cán bộ. Người thường xuyên nhắc nhở các cấp, các ngành phải chú ý coi trọng công tác huấn luyện, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, trong đó có cán bộ nữ. Người nêu lên những tư tưởng hết sức quan trọng về công tác cán bộ, đặc biệt là việc huấn luyện, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Người chỉ rõ: “Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(1) và coi việc “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, “vấn đề cán bộ là vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp”(2). Trong đó, việc bồi dưỡng xây dựng, sử dụng cán bộ nữ, giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam, nữ trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, tạo mọi điều kiện để phát huy vai trò phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Trước lúc đi xa, trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người căn dặn: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”(3).

Nâng cao nhận thức là một trong những bảo đảm quan trọng cho hiệu lực, hiệu quả của Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi đã nghiện thuốc lá, cơ thể con người sẽ trở nên thụ động và phụ thuộc vào các chất hóa học trong thuốc lá. Và khi ngừng sử dụng thuốc lá, có thể sẽ dẫn đến buồn chán, thất vọng, thậm chí có thể trầm cảm và căng thẳng kéo dài. Do đó, bỏ thuốc lá là việc không đơn giản, cần phải có quyết tâm cao, được hỗ trợ từ nhiều phía. Điều này cũng đồng nghĩa với công tác phòng, chống tác hại (PCTH) của thuốc lá sẽ còn rất nhiều khó khăn, đòi hỏi phải có sự nỗ lực không ngừng của mỗi quốc gia, cộng đồng, xã hội trên tất cả các phương diện từ pháp luật, kinh tế cho đến nâng cao nhận thức của người dân. Ở Việt Nam, tác hại của thuốc lá ngày càng được nhận thức rõ hơn, công tác PCTH của thuốc lá cũng ngày càng được coi trọng.

Giá trị đạo đức công và giới hạn trách nhiệm trong thực thi công vụ

Ở nhiều quốc gia phương Tây, sau bầu cử[1]thường có sự thay đổi Chính phủ nhưng các công chức trong bộ máy hành chính vẫn tiếp tục phục vụ và chịu trách nhiệm trước Chính phủ mới. Để đảm bảo tính chuyên nghiệp, ổn định và liên tục, pháp luật hành chính luôn ghi nhận những giá trị công và các nguyên tắc chung quy định trách nhiệm, đồng thời cũng giới hạn trách nhiệm của công chức trước Chính phủ. Bài viết tham khảo kinh nghiệm nước ngoài về vấn đề này, từ đó nêu những yếu tố phù hợp với điều kiện thể chế chính trị một Đảng lãnh đạo ở nước ta, có thể giúp ích cho quá trình cải cách hành chính.

Nhiều kết quả tích cực trong triển khai Dự án 600 Phó chủ tịch xã và Đề án 500 trí thức trẻ ở Hà Giang

Hà Giang là tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới, dân tộc, có đường biên giới dài trên 277 km tiếp giáp với Trung Quốc, địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, một bộ phận lớn dân cư sinh sống phân tán ở vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới. Tỉnh có 10 huyện và 01 thành phố, với 195 xã, phường, thị trấn, trong đó có 141 xã đặc biệt khó khăn, có 6 huyện nghèo thuộc Chương trình 30a của Chính phủ, toàn tỉnh có 22 dân tộc, trong đó gần 90% dân số sống ở khu vực nông thôn, mỗi dân tộc có phong tục tập quán và nhận thức khác nhau; đời sống đồng bào các dân tộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn rất khó khăn, mặt bằng trình độ dân trí còn thấp, trình độ sản xuất còn lạc hậu.

Đưa tri thức trẻ ưu tú về làm Phó Chủ tịch xã - thực tiễn từ Cao Bằng

Cao Bằng là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc, có tổng diện tích đất tự nhiên 6.724,62 km², trong đó diện tích rừng, núi chiếm 90%; dân số toàn tỉnh 524.190 người (số liệu năm 2015) có trên 332 km đường biên giới giáp với tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc. Tỉnh Cao Bằng có 13 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 01 thành phố và 12 huyện với 199 xã, phường, thị trấn, trong đó có 148 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn. Đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở vẫn còn nhiều bất cập về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như thiếu về nhân lực. Tính đến cuối năm 2011, tổng số cán bộ, công chức (CBCC) cấp xã là 3.608 người, trong đó tỷ lệ CBCC cấp xã đạt chuẩn về trình độ chuyên môn chỉ chiếm 55,3%, còn tới 44,7% CBCC cấp xã chưa đạt chuẩn về trình độ chuyên môn (chưa có trình độ trung cấp trở lên). Đây là những yếu tố hạn chế sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. 

TIN MỚI NHẤT
Tạo lập đội ngũ cán bộ chất lượng và đồng bộ cho chặng đường mới
Định hướng chiến lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới
Hiện đại hóa đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức: tầm nhìn, mục tiêu, sứ mệnh
Các tin khác
Tin hoạt động Tổ chức nhà nước
(22/06/2017 02:24)
Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ làm việc tại Bộ Nội vụ
Sáng 22/6/2017, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước về đổi mới cơ chế hoạt động  ...
Tin mới nhất

Tự quản địa phương ở Liên bang Nga và gợi mở cho Việt Nam

Thực trạng xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở Việt Nam hiện nay

Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định văn bản quy phạm pháp luật

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh - kim chỉ nam cho hoạt động đối ngoại quốc phòng trong thời kỳ mới

Tạp chí Văn thư - Lưu trữ Việt Nam nhận giải C Giải Báo chí quốc gia năm 2016

Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong tình hình hiện nay

Tin xem nhiều

Đánh giá cán bộ, công chức

Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác cán bộ nữ

Những vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay về “tự bảo vệ” Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Quản lý nhà nước về công tác thanh niên hiện nay

Chế định hợp đồng trong Luật Viên chức

Bài học về thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám và vận dụng vào thực tiễn hiện nay

Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2015-2020 đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Tuấn
Trụ sở tòa soạn: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0804 6422, 0804 6543; Fax: 0804 6621 - Email: Tapchitcnn@moha.gov.vn
Bản quyền thuộc Tạp chí Tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ
Giấy phép xuất bản: Số 407/GP-BTTT ngày 27/9/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

®Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước là cơ quan báo chí của Bộ Nội vụ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.