Thực tiễn - Kinh nghiệm
Nâng cao chất lượng lập pháp theo Hiến pháp năm 2013

1. Hiến pháp năm 2013 - cơ sở hiến định cho việc đổi mới về chất mô hình lập pháp

Trước hết, Hiến pháp năm 2013 không thừa nhận quyền lập hiến và quyền lập pháp là một quyền - như quan niệm của Hiến pháp năm 1992 rằng - chỉ duy nhất và toàn quyền thuộc về Quốc hội. Ngược lại, Hiến pháp năm 2013 thừa nhận quyền lập hiến và quyền lập pháp là hai quyền khác nhau, quyền lập hiến là quyền lực gốc, cao hơn quyền lập pháp, còn quyền lập pháp phái sinh từ quyền lập hiến. Vì thế, quyền lập hiến thuộc về nhân dân, còn quyền lập pháp thuộc về Quốc hội. Như vậy, quyền lập pháp khác với quyền lập hiến. Lập pháp là quyền duy nhất thuộc Quốc hội, tức là quyền thay mặt nhân dân thẩm tra, xem xét các dự án luật khi cơ quan có thẩm quyền đưa trình, nếu phù hợp với ý nguyện của nhân dân và đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn thì bấm nút thông qua để trở thành luật. Như vậy, quyền thẩm tra và xem xét thông qua các dự án luật là quyền duy nhất thuộc về Quốc hội. Theo đó, không nên quan niệm quyền lập pháp duy nhất thuộc về Quốc hội là Quốc hội phải làm từ A đến Z trong tất cả các công đoạn của quy trình lập pháp. Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội không phải sinh ra để soạn thảo các dự án luật mà nhiệm vụ quan trọng, hàng đầu là thẩm tra các dự án luật, bảo đảm cho các dự án luật sau khi xem xét, bấm nút thông qua phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân, có khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo đảm tính hợp hiến và tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Hiến pháp năm 2013 phân định Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp là nhằm làm rõ mối quan hệ độc lập tương đối giữa Quốc hội, Chính phủ và Tòa án nhân dân tối cao. Trong quy trình lập pháp, tính độc lập tương đối của Quốc hội đối với hành pháp (Chính phủ) và tư pháp (Tòa án nhân dân) đó là Quốc hội bằng hoạt động thẩm tra, xem xét có quyền thông qua hay không thông qua dự án luật.

Tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế trong bộ máy nhà nước - những vấn đề đặt ra hiện nay

Tổ chức bộ máy và biên chế là hai nhân tố quan trọng bảo đảm cho sự vận hành của hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước. Việc đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và sử dụng, bố trí đúng, đủ biên chế có ý nghĩa quyết định đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong bộ máy nhà nước. Vì vậy, trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước 02 giai đoạn 2001 - 2010 và 2011 - 2020, Chính phủ đã xác định cải cách tổ chức bộ máy hành chính là một trong những nội dung quan trọng cần tập trung thực hiện. Qua 15 năm thực hiện, bộ máy hành chính nhà nước đã từng bước được tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, nhưng so với yêu cầu thực tiễn vẫn còn một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục hoàn thiện.

Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo qua mười năm thực hiện

Việc ra đời của Pháp lệnh số 21/2004/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tín ngưỡng, tôn giáo được ban hành (ngày 18-6-2004)thể hiện sự đổi mới về quan niệm tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam và cũng thể hiện sự quan tâm của Nhà nước với nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Từ năm 1990 đến năm 2003 đã có 13 văn kiện của Đảng được ban hành liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có điểm đổi mới căn bản khi khẳng định: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”(1).

Công tác cán bộ nữ - từ chỉ đạo đến thực hiện

Ngày 27/4/2007, Nghị quyết số 11-NQ/TƯ của Bộ Chính trị "Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" ra đời, xác định: "Xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng". Qua 8 năm, cùng với việc nâng cao nhận thức về công tác phụ nữ và bình đẳng giới, gắn với tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tốt hệ thống luật pháp, chính sách, xây dựng gia đình, xây dựng Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam vững mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ về sức khỏe, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa, có lòng nhân hậu... thì nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ của Đảng  đã có những thành tựu đáng khích lệ.

Cải cách tại cấp đạo của vua Lê Thánh Tông và một số bài học kinh nghiệm

Cải tổ hệ thống chính quyền địa phương luôn là vấn đề được các triều đại phong kiến Việt Nam quan tâm. Song, công cuộc cải tổ hệ thống chính quyền địa phương dưới triều vua Lê Thánh Tông được coi là thành công nhất. Với phương châm không dàn trải, bên cạnh cấp xã, vua Lê Thánh Tông đặc biệt chú trọng cải tổ cấp đạo, đó là cấp đơn vị hành chính địa phương cao nhất - nơi trực tiếp chịu sự chỉ đạo của chính quyền trung ương. Chính quyền cấp đạo thời vua Lê Thánh Tông đã đạt tới sự hoàn thiện về tổ chức, hiệu quả trong hoạt động. Nghiên cứu cải cách ở cấp đạo để tìm ra những hạt nhân hợp lý phục vụ cho công cuộc cải cách hệ thống chính quyền địa phương hiện nay là việc làm cần thiết.

Thuật ngữ "trách nhiệm" và thực tiễn pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước
1. Thuật ngữ “trách nhiệm”
Trong tiếng Anh, có hai thuật ngữ cùng được hiểu là “trách nhiệm”: “responsibility” và “accountability”. Hai thuật ngữ này thường được dùng thay thế cho nhau, nhưng có một sự khác biệt cơ bản giữa hai thuật ngữ này. Trách nhiệm với nghĩa là “responsibility” thường được hiểu là việc phải làm, như là bổn phận, nghĩa vụ. Còn "accountability" có nghĩa rộng hơn responsibility, không chỉ có nghĩa là những việc phải làm, mà còn bao gồm việc đứng ra nhận và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện những việc đó. Accountability có thể được hiểu là tổng hợp của Trách nhiệm (responsibility), Khả năng biện minh (answerability) và Nghĩa vụ pháp lý (liability)[1]. “Trách nhiệm” theo nghĩa là accountability thể hiện khả năng của một cá nhân/tổ chức thừa nhận về những gì mình đã làm khi thực hiện một việc nào đó; đồng thời, nó bao hàm nghĩa vụ giải thích, báo cáo, thông tin, biện giải về những việc đó và những hệ quả, cũng như việc sẵn sàng chịu sự đánh giá, phán xét, thậm chí là trừng phạt cả về mặt pháp lý và đạo đức đối với những hệ quả đó.
TIN MỚI NHẤT
Bộ Nội vụ tổ chức gặp mặt các đồng chí thương binh và con gia đình liệt sỹ
Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã
Chức năng, cơ cấu tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Các tin khác
Tin hoạt động Tổ chức nhà nước
(27/07/2017 04:15)
Bộ Nội vụ tổ chức gặp mặt các đồng chí thương binh và con gia đình liệt sỹ
Nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/2017), chiều ngày 27/7/2017, tại trụ sở Bộ, Bộ Nội vụ  ...
Tin mới nhất

Nhà nước liêm chính

Từ vụ gây khó cấp giấy chứng tử: Hãy để dân chấm điểm cán bộ

Ban hành Quy chế tiếp nhận, trả lời kiến nghị của cử tri

Áp dụng mô hình quản lý nguồn nhân lực công theo việc làm ở Việt Nam hiện nay

Sở Nội vụ Hà Nội đã giảm số lượng lớn các đơn vị sự nghiệp

Quy trình lập pháp ở Việt Nam và vai trò của đại biểu Quốc hội

Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật – những vấn đề phát sinh trong thực tiễn

Tin xem nhiều

Đánh giá cán bộ, công chức

Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác cán bộ nữ

Những vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay về “tự bảo vệ” Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Quản lý nhà nước về công tác thanh niên hiện nay

Chế định hợp đồng trong Luật Viên chức

Bài học về thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám và vận dụng vào thực tiễn hiện nay

Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2015-2020 đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Tuấn
Trụ sở tòa soạn: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0804 6422, 0804 6543; Fax: 0804 6621 - Email: Tapchitcnn@moha.gov.vn
Bản quyền thuộc Tạp chí Tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ
Giấy phép xuất bản: Số 407/GP-BTTT ngày 27/9/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

®Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước là cơ quan báo chí của Bộ Nội vụ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.