11/09/2013 02:52
Bàn về chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấn

Từ vị trí quan trọng của xã, phường, thị trấn, Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng (khoá IX) đã ban hành Nghị quyết số 17/NQ-TW ngày 18/3/2002 về "Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn". Sau khi có Nghị quyết, các cấp, các ngành đã tổ chức quán triệt và ban hành nhiều văn bản để thực hiện như: Chính phủ ban hành Nghị định 114/2003/NĐ-CP và Nghị định 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 về chế độ, chính sách đối với cán bộ xã, phường, thị trấn. Các địa phương căn cứ nhu cầu, khối lượng, tính chất công việc, khả năng ngân sách của mình đã quy định số lượng, mức phụ cấp đối với cán bộ không chuyên trách cấp xã, cán bộ thôn, tổ dân phố.

1. Về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiện nay

- Tính đến ngày 31/10/2007 cả nước có 10.987 xã, phường, thị trấn, trong đó 9.106 xã, 1.271 phường, 610 thị trấn. Tổng số 125.710 thôn, bản, tổ dân phố trong đó 81.202 thôn, 44.508 tổ dân phố.

- Thực hiện Nghị định 159/2005/NĐ-CP ngày 29/12/2005 của Chính phủ đã phân loại hành chính cấp xã, trong đó 2981 xã loại I, 5657 xã loại II, 2292 xã loại III (số liệu tính tại thời gian phân loại cấp xã 30/12/2006).

- Hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn hiện nay đều có các tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội.

- Tổng số cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn toàn quốc tại thời điểm 01/10/2005 có 192.438 người (chưa kể số lượng cán bộ tỉnh, huyện tăng cường), trong đó: cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử (sau đây gọi tắt là cán bộ bầu cử) có 111.124 người chiếm 57,75%. Công chức chuyên môn cấp xã (sau đây gọi tắt là công chức) có 81.314 người chiếm 42,25%.

- Về độ tuổi cán bộ, công chức cấp xã còn 5,39% trên 60 tuổi, trong đó cán bộ giữ chức vụ bầu cử chiếm 4,93%

- Về cán bộ, công chức là nữ: chiếm 16,21%

- Về cán bộ, công chức là Đảng viên: chiếm 84,67%

- Trình độ học vấn: cán bộ, công chức xã chưa biết chữ còn 0,13%

- Trình độ chuyên môn: số cán bộ có trình độ trên đại học là 0,04%. Cao đẳng và đại học là 9,04%

- Trình độ lý luận chính trị còn 34,82% chưa được đào tạo về trình độ lý luận chính trị.

- Trình độ quản lý hành chính nhà nước còn 55,53% chưa được đào tạo.

- Về nguồn cán bộ: Có 90,45% cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử là người tại chỗ; 3,23% là cán bộ tăng cường; 6,03% là cán bộ hưu trí, mất sức.

2. Những bất cập về chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ chuyên trách ở cơ sở xã, phường, thị trấn.

Việc chuyển từ sinh hoạt phí sang chế độ lương đã tạo tâm lý an tâm phấn khởi hơn đối với cán bộ, công chức cơ sở. Tuy nhiên, chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở đã được giải quyết trong nhiều năm, qua nhiều chủ trương, quy định khác nhau nên còn nhiều bất cập và vướng mắc. Cụ thể là:

- Về số lượng cán bộ, công chức cấp xã: việc quy định số lượng cán bộ, công chức cấp xã từ 17 đến không quá 25 là không phù hợp với những đơn vị hành chính cấp xã có dân số trên 4 vạn người. Hiện nay, Nghị định số 159/2005/NĐ-CP về phân loại đơn vị hành chính cấp xã đã được thực hiện nhưng chưa có chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức hoặc chưa tăng số lượng cán bộ cho xã, phường, thị trấn loại 1 và loại 2.

- Về chế độ tiền lương: cán bộ bầu cử và công chức chuyên môn có cùng trình độ đào tạo nhưng cán bộ bầu cử chỉ có 2 bậc lương. Công chức chuyên môn thì hưởng lương theo ngạch và nâng lương thường xuyên theo quy định. Cán bộ bầu cử kiêm nhiệm chưa được hưởng 10% phụ cấp kiêm nhiệm chức vụ lãnh đạo.

- Về bảo hiểm xã hội: theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội của cán bộ, công chức xã là 20 năm và phải đủ 55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi đối với nam mới đủ điều kiện nghỉ hưu, việc này có nhiều bất cập cho cán bộ, công chức xã, nhất là những vùng đặc biệt khó khăn. Chế độ bảo hiểm xã hội đối với cán bộ cấp xã trước đây có quy định "chức danh khác" đã tham gia bảo hiểm xã hội theo Nghị định số 09/1998/ NĐ-CP của Chính phủ đến nay  nghỉ việc chưa được giải quyết.

- Đối với công chức cấp xã, tuổi tuyển dụng lần đầu thấp (không quá 35 tuổi) không phù hợp với Pháp lệnh cán bộ, công chức.

- Đối với cán bộ không chuyên trách cấp xã, cấp thôn: toàn quốc có 568.899 cán bộ hưởng sinh hoạt phí. Hiện nay, số lượng và mức phụ cấp của cán bộ không chuyên trách cấp xã do HĐND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định đã tạo chênh lệch khá lớn và gây bất hợp lý giữa các địa phương. Có địa phương không cân đối được ngân sách nhưng quyết định mức phụ cấp cho cán bộ không chuyên trách cao hơn địa phương cân đối được ngân sách. Nhiều địa phương quyết định thêm nhiều chức danh cán bộ không chuyên trách ngoài quy định của Nghị định số 121/2003/NĐ-CP làm cho số lượng cán bộ không chuyên trách cấp xã, thôn quá đông, gây khó khăn cho ngân sách địa phương. Đa số các địa phương đề nghị cho cán bộ không chuyên trách cấp xã được đóng bảo hiểm xã hội.

3. Phương hướng hoàn thiện chế độ, chính sách

Chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã từng thời kỳ quy định khác nhau là vấn đề lớn, còn có nhiều ý kiến khác nhau. Nhiều ý kiến của địa phương, cơ sở cho rằng nền hành chính của nhà nước ta là 4 cấp, phải công bằng cả 4 cấp, do đó đề nghị cần chuyển chế độ cán bộ, công chức cơ sở sang chế độ công chức nhà nước. Một số chuyên gia về hành chính, các nhà khoa học đề xuất không nên hành chính hoá đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã mà nên nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ của cấp xã theo hướng tự quản để gắn với cộng đồng dân cư. Đây là vấn đề phức tạp và nhạy cảm cần  phải được nghiên cứu một cách tổng thể về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy, chế độ chính sách... liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành và cần có thời gian để điều tra, khảo sát ở các vùng, miền khác nhau trong cả nước. Trước mắt ý kiến cá nhân tôi đề nghị thực hiện theo hướng sau:

- Phương hướng:

+ Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX, bổ sung thực hiện hoàn thiện chế độ chính sách theo Nghị định 121/2003/NĐ-CP, trên cơ sở phân loại xã, phường, thị trấn (loại I, loại II, loại III), theo Nghị định 159/2005/NĐ-CP để có chế độ, chính sách, biên chế  cho phù hợp đối với quy mô của các xã, phường, thị trấn;

+ Tạo sự thống nhất về chế độ chính sách giữa các cấp hành chính nhà nước;

+ Đối với cán bộ không chuyên trách thực hiện cơ chế khoán kinh phí, tăng cường tự quản kiêm nhiệm, để tinh giản biên chế và tăng phụ cấp;

Bổ sung chế độ đối với cấp Uỷ viên, Uỷ viên thường vụ của Đảng Uỷ xã, phường, thị trấn.

- Giải pháp:

+ Về số lượng, chức danh sắp tới:

Trên cơ sở khoán kinh phí tăng kiêm nhiệm cho cán bộ không chuyên trách, tinh giản bộ máy để có điều kiện nghiên cứu tăng thêm một vài chức danh cần thiết về cán bộ chuyên trách cấp xã như lực lượng quốc phòng, an ninh có tính đặc thù hiện nay.

+ Cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử cấp xã, nếu có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên được xếp ngạch và hưởng chế độ tiền lương theo bảng lương hành chính; trường hợp chưa có bằng cấp chuyên môn thì được hưởng lương chức vụ theo quy định hiện nay của Nghị định 121/2003/NĐ-CP. Đồng thời cả hai trường hợp trên được bổ sung (cộng thêm) phụ cấp chức vụ lãnh đạo. Mức phụ cấp lãnh đạo tùy theo mô hình phân loại xã, tương đương với phụ cấp lãnh đạo của trưởng, phó phòng cấp huyện.

+ Bổ sung chế độ chính sách đối với cấp uỷ viên xã, phường, thị trấn được hưởng phụ cấp 0.3 hệ số lương tối thiểu (tương đương với mức phụ cấp của đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn).

Đối với uỷ viên ban thường vụ cấp xã là trưởng các ban xây dựng Đảng nghiên cứu được hưởng thêm phụ cấp lãnh đạo theo quy định phân loại xã.

+ Cán bộ không chuyên trách cấp xã, cán bộ thôn thực hiện theo hướng tự quản, khoán kinh phí để tinh gọn bộ máy. Chính phủ có hướng dẫn cụ thể khung phụ cấp tối đa và tối thiểu cho phù hợp để các địa phương thực hiện thống nhất (phụ cấp từ 0, 5 đến 1,0). Những xã, phường, thị trấn thực hiện khoán kinh phí, kiêm nhiệm các chức danh không chuyên trách sẽ được hưởng thêm phụ cấp kiêm nhiệm.

+ Chế độ bảo hiểm xã hội của cán bộ không chuyên trách cấp xã thực hiện bảo hiểm tự nguyện nếu còn trong độ tuổi lao động.

       

TS. Nguyễn Hữu Đức
[6456]
Bàn về chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấnTừ vị trí quan trọng của xã, phường, thị trấn, Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng (khoá IX) đã ban hành Nghị quyết số 17/NQ-TW ngày 18/3/2002 về "Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn". Sau khi có Nghị quyết, các
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
TIN MỚI NHẤT
Một số giải pháp nâng cao đạo đức công chức
Vượt qua rào cản từ nhận thức khi triển khai dịch vụ công trực tuyến mức 3 cấp xã
Một số ý kiến về việc thực hiện cơ chế “phân cấp” theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
Các tin khác
Tin hoạt động Tổ chức nhà nước
(08/12/2016 05:18)
Bế giảng lớp bồi dưỡng ngạch Chuyên viên chính khoá 35 và Chuyên viên khóa 37
Sáng 08/12/2016, tại Hà Nội, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức - Bộ Nội vụ tổ chức Lễ Bế giảng 02 lớp bồi dưỡng  ...
Tin mới nhất

Hội nghị cán bộ toàn quốc phổ biến, quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Không đơn thuần là thất thoát ngân sách

Năm 2018: 80% thủ tục xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh qua Một cửa quốc gia

Bế giảng lớp bồi dưỡng ngạch Chuyên viên chính khoá 35 và Chuyên viên khóa 37

Tổ chức lớp Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng nghiên cứu khoa học năm 2016

Bàn về thi tuyển các chức danh công chức lãnh đạo hiện nay

Kỷ cương và đồng hành

Tin xem nhiều

Quản lý nhà nước về kinh tế - một số vấn đề đặt ra trước yêu cầu đổi mới

Xác định chức danh của những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

Một số vấn đề về chính sách công ở Việt Nam hiện nay

Chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 2013 và việc xây dựng Luật về hoạt động của Chủ tịch nước

Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp huyện, cấp xã

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay

Bàn về pháp chế xã hội chủ nghĩa trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Tuấn
Trụ sở tòa soạn: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0804 6422, 0804 6543; Fax: 0804 6621 - Email: Tapchitcnn@moha.gov.vn
Bản quyền thuộc Tạp chí Tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ
Giấy phép xuất bản: Số 407/GP-BTTT ngày 27/9/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

®Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước là cơ quan báo chí của Bộ Nội vụ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.