11/06/2013 02:23
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về nguồn nhân lực ngành năng lượng nguyên tử

Nhân loại đang đứng trước nguy cơ thiếu hụt và cạn kiệt nguồn năng lượng tự nhiên như than đá, dầu khí. Việt Nam chúng ta tuy được thiên nhiên ưu đãi nhưng cũng không thể đảm bảo lâu dài về than đá và dầu khí trong khi nhu cầu năng lượng đang ngày một tăng cao

Nhiều chuyên gia nhận định, đến năm 2015 Việt Nam sẽ thiếu than và số lượng thiếu hụt sẽ tăng dần theo từng năm. Cụ thể là năm 2015 thiếu khoảng trên 5 triệu tấn, năm 2016 thiếu khoảng 25 triệu tấn. Nếu Việt Nam không phát hiện thêm các mỏ dầu mới có trữ lượng lớn thì đến năm 2025 cơ bản sẽ cạn kiệt tài nguyên dầu khí. Vì vậy, việc chuẩn bị và phát triển nguồn năng lượng mới để bổ sung, thay thế cho nguồn năng lượng chủ yếu hiện nay là vấn đề cấp thiết đối với Việt Nam đã được đặt ra từ nhiều năm nay.

Sau vụ tai nạn hạt nhân Fukushima xảy ra tại Nhật Bản, nhiều nước phát triển đã lập kế hoạch đóng cửa dần các nhà máy điện hạt nhân. Một số nhà khoa học lo ngại phong trào tẩy chay năng lượng hạt nhân sẽ khiến cho vấn đề an ninh năng lượng và biến đổi khí hậu trở nên trầm trọng hơn và mục tiêu cắt giảm khí thải carbon sẽ không thể thực hiện được nếu năng lượng hạt nhân bị gạt ra khỏi tương lai của loài người.

Ở Việt Nam, từ nhiều năm trở lại đây, Chính phủ đã ban hành những chính sách, cơ chế hỗ trợ và chiến lược nhằm phát triển nguồn năng lượng quốc gia. Theo đó, Việt Nam sẽ phát triển đồng bộ và hợp lý hệ thống năng lượng điện, dầu khí, than, năng lượng mới và tái tạo; trong đó, ưu tiên phát triển nguồn năng lượng sạch và năng lượng mới. Quốc hội đã phê chuẩn quy hoạch ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2030 và ban hành Nghị quyết số 41/2009/QH12 ngày 25/11/2009 về chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân Ninh

 Như vậy, việc phát triển nguồn năng lượng điện hạt nhân là sự lựa chọn cần thiết, đem lại nhiều lợi ích và phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam và xu hướng chung của thế giới. Tuy nhiên, thảm họa của điện hạt nhân gây ra cũng vô cùng khủng khiếp. Vì thế, trong quá trình đưa điện hạt nhân vào cuộc sống nói riêng và phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình nói chung, vấn đề đảm bảo an toàn luôn được các quốc gia trên thế giới đặt lên hàng đầu và con người chính là nhân tố quan trọng nhất quyết định đến yếu tố an toàn của các hoạt động này. Bài viết này xin đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về nguồn nhân lực ngành năng lượng nguyên tử, đặc biệt là nguồn nhân lực phục vụ chương trình phát triển điện hạt nhân của Việt Nam như sau:

Một là, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử. Hoạt động thông tin, tuyên truyền về điện hạt nhân phải bảo đảm kịp thời, minh bạch, được tiến hành đồng bộ; bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất và phối hợp chặt chẽ, thường xuyên từ trung ương đến địa phương, giữa các cơ quan quản lý và các tổ chức liên quan, đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, chính xác và kịp thời trong việc cung cấp thông tin, tiếp nhận và trả lời ý kiến của công chúng. Công tác thông tin, tuyên truyền phải hướng tới mục tiêu tạo ra nhận thức và sự hiểu biết đầy đủ, đúng đắn của các tầng lớp xã hội và các tổ chức liên quan về tính chất, đặc điểm, sự cần thiết và lợi ích của điện hạt nhân trong việc đảm bảo an ninh năng lượng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và về yêu cầu đảm bảo an toàn, an ninh, góp phần duy trì và nâng cao sự đồng thuận của công chúng để phát triển điện hạt nhân một cách bền vững. Giải pháp thông tin tuyên truyền cần được coi trọng trong quản lý nguồn nhân lực điện hạt nhân, vì nhận thức của nhân dân về điện hạt nhân còn nhiều hạn chế, nhất là sự cố về các nhà máy điện hạt nhân ở Nga và Nhật Bản đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức của nhân dân về vấn đề này. Mặt khác, công tác quản lý nhà nước đối với nguồn năng lượng hạt nhân, nguồn phóng xạ nguy hiểm này cũng chưa có nhiều kinh nghiệm. Số lượng và trình độ chuyên sâu về lĩnh vực điện hạt nhân của đội ngũ các nhà khoa học Việt Nam chưa nhiều, độ tuổi trung bình cao nên việc tuyên truyền nâng cao nhận thức, sự đồng thuận của nhân dân để trực tiếp tham gia nguồn nhân lực và ủng hộ sự phát triển điện hạt nhân là giải pháp hết sức quan trọng. 

Hai là, tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực ngành năng lượng nguyên tử nói chung và điện hạt nhân nói riêng. Việc đào tạo cán bộ chuyên môn là ưu tiên hàng đầu trong phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam. Việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố con người, nhất là những người trực tiếp tham gia vào xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân. Trong khi việc đào tạo còn gặp nhiều khó khăn, đội ngũ chưa đông đảo, hầu hết được đào tạo từ các nước Xã hội chủ nghĩa trước đây, nên kiến thức mới về kỹ thuật hạt nhân còn hạn chế. Việc đào tạo nguồn nhân lực điện hạt nhân cần xác định tính chất đặc thù, ngoài những quy định chung phải có những quy định riêng. Ngoài đào tạo chuyên sâu về trình độ chuyên môn, kỹ năng thực hành, cần đào tạo và rèn luyện về ý thức đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, tính kiên trì, bền bỉ trong nghiên cứu khoa học và vận hành các hoạt động về lĩnh vực điện hạt nhân. Cần thúc đẩy hoạt động hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực cho ngành năng lượng nguyên tử. Ngoài việc đào tạo để đạt trình độ thạc sĩ, tiến sĩ cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia đầu ngành để có những người có trình độ cao về chuyên môn trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, phát hiện những tài năng trẻ, những phát minh, sáng chế trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực điện hạt nhân.

Ba là, ban hành chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút lực lượng trẻ, có tri thức, say mê và ý thức kỷ luật cao tham gia nguồn nhân lực điện hạt nhân. Vì điện hạt nhân mang lại lợi ích kinh tế - xã hội rất cao, nếu phát triển tốt và bền vững sẽ khắc phục được tình trạng thiếu hụt năng lượng và là một biện pháp hữu hiệu để thực hiện mục tiêu về chống biến đổi khí hậu toàn cầu. Nhưng điện hạt nhân chứa đựng rủi ro lớn, người làm việc trong lĩnh vực này rất vất vả và phải chịu đựng rủi ro trong suốt cả cuộc đời. Để thu hút cán bộ trẻ làm việc trong lĩnh vực này cần phải có chính sách đãi ngộ thoả đáng.

Bốn là, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về năng lượng nguyên tử như Luật Năng lượng nguyên tử, các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành cho phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam, vừa đảm bảo trật tự, kỷ cương vừa tăng cường hiệu quả của các hoạt động ứng dụng năng lượng nguyên tử. Ví dụ, mặc dù cơ chế bồi thường thiệt hại và bảo hiểm hạt nhân đã được quy định tại Luật Năng lượng nguyên tử 2008, Nghị định số 07/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Năng lượng nguyên tử và Thông tư số 13/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về bảo hiểm bắt buộc bảo hiểm nghề nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường đối với tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ, nhưng nhìn chung các quy định nêu trên còn thiếu chi tiết và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Các quy chế hiện hành áp dụng chung cho tất cả các hoạt động bức xạ. Quy định về bồi thường thiệt hại hạt nhân và bảo hiểm hạt nhân còn sơ sài. Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại hạt nhân chưa tập trung vào tổ chức, cá nhân vận hành nhà máy điện hạt nhân theo quy định tại các điều ước quốc tế về bồi thường thiệt hại hạt nhân và theo quy định của một số nước đã có điện hạt nhân như Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác trên thế giới, gây quan ngại cho các chủ đầu tư và đối tác của Việt Nam trong quá trình phát triển điện hạt nhân. Do vậy, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung các quy định về bồi thường thiệt hại hạt nhân và bảo hiểm hạt nhân của Việt Nam nói riêng, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về năng lượng nguyên tử nói chung cho phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo sự đồng thuận của xã hội và cộng đồng quốc tế đối với chương trình phát triển điện hạt nhân của Việt Nam.

Năm là, xây dựng và hoàn thiện tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ cán bộ, công chức và kiện toàn công tác quy hoạch cán bộ ngành năng lượng nguyên tử. Để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ của ngành, ngoài các tiêu chuẩn chung về chuyên môn nghiệp vụ, đối với cán bộ, công chức ngành năng lượng nguyên tử cần có tiêu chuẩn đặc thù về chuyên môn đào tạo gắn với lĩnh vực công tác. Đối với công tác quy hoạch cán bộ, để đảm bảo chất lượng và hiệu quả, ngành năng lượng nguyên tử phải chú trọng đến công tác quy hoạch theo hướng: mở rộng phạm vi áp dụng quy hoạch; quy hoạch cán bộ phải thực sự là căn cứ để cử đi đào tạo, bồi dưỡng; xác định rõ nội dung đào tạo, bồi dưỡng đối với từng chức danh cán bộ trong quy hoạch; cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các khâu trong công tác cán bộ như quy hoạch, kế hoạch đào tạo, đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong quy hoạch; xây dựng kế hoạch luân chuyển cán bộ để tạo điều kiện cho cán bộ, công chức được cọ sát, tiếp cận với kiến thức rộng hơn và với nhiều loại hình đơn vị. Việc tiếp cận với công việc mới, thay đổi môi trường công tác sẽ tạo điều kiện cho cán bộ, công chức có thể phát huy sáng kiến trong chuyên môn, nghiệp vụ, trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành; mặt khác cũng tạo cho cán bộ, công chức biết nhiều việc trong chuyên môn để sẵn sàng bổ sung lực lượng cho các mảng công việc cần có sự tập trung cao.

 Hiện nay, nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử của Việt Nam nói chung và nguồn nhân lực thực hiện chức năng quản lý trong lĩnh vực này nói riêng vẫn còn rất mỏng và chưa đáp ứng được các yêu cầu đặt ra. Do vậy, cần phải có nghiên cứu cụ thể nhằm đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với điều kiện và thực tiễn của Việt Nam.

ThS. Đặng Anh Thư Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, Bộ Khoa học và Công nghệ
[4329]
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về nguồn nhân lực ngành năng lượng nguyên tửNhiều chuyên gia nhận định, đến năm 2015 Việt Nam sẽ thiếu than và số lượng thiếu hụt sẽ tăng dần theo từng năm. Cụ thể là năm 2015 thiếu khoảng trên 5 triệu tấn, năm 2016 thiếu khoảng 25 triệu tấn. Nếu Việt Nam không phát hiện thêm các mỏ dầu mới có trữ lượng
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
TIN MỚI NHẤT
Sửa đổi, bổ sung quy trình công tác cán bộ: Bảo đảm chặt chẽ, thực chất hơn
Mít tinh kỷ niệm 41 năm ngày Quốc khánh nước CHDCND Lào
Nét mới thi nâng ngạch cán bộ, công chức cơ quan đảng, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
Các tin khác
Tin hoạt động Tổ chức nhà nước
(02/12/2016 02:12)
Mít tinh kỷ niệm 41 năm ngày Quốc khánh nước CHDCND Lào
Sáng nay 02/12/2016, tại Hà Nội, Học viện Hành chính quốc gia - Bộ Nội vụ đã tổ chức mít tinh chào mừng kỷ niệm 41 năm ngày  ...
Tin mới nhất

Khẩn trương ban hành quy định về bổ nhiệm lãnh đạo của đơn vị thuộc cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh

Hà Nội giảm 189 phòng, ban, đơn vị sự nghiệp

Kết quả công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016

Nhà nước Việt Nam vì quyền con người và quyền dân tộc tự quyết

Không ‘chúc Tết, phong bì’: Thêm một thông điệp về Chính phủ liêm chính

Các chỉ số đánh giá hiệu quả cung ứng dịch vụ hành chính công ở nước ta hiện nay

Đà Nẵng: 100% phường, xã tiếp nhận liên thông văn bản điện tử

Tin xem nhiều

Quản lý nhà nước về kinh tế - một số vấn đề đặt ra trước yêu cầu đổi mới

Xác định chức danh của những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

Một số vấn đề về chính sách công ở Việt Nam hiện nay

Chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 2013 và việc xây dựng Luật về hoạt động của Chủ tịch nước

Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp huyện, cấp xã

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay

Bàn về pháp chế xã hội chủ nghĩa trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Tuấn
Trụ sở tòa soạn: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0804 6422, 0804 6543; Fax: 0804 6621 - Email: Tapchitcnn@moha.gov.vn
Bản quyền thuộc Tạp chí Tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ
Giấy phép xuất bản: Số 407/GP-BTTT ngày 27/9/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

®Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước là cơ quan báo chí của Bộ Nội vụ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.