10/03/2015 10:07
Về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ra đời là một bước tiến trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Qua quá trình thực hiện Luật, bên cạnh những đóng góp tích cực cũng còn những vấn đề cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện.

Ảnh minh họa: internet
Ngày 18/6/2009, kỳ họp thứ 5 Quốc hội Khóa XII đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Sự ra đời của Luật đánh dấu một bước tiến mới trong tư duy lập pháp ở nước ta, đồng thời là một sự kiện quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc trong việc khẳng định chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện các mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, trong đó có quyền được bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra khi thi hành công vụ, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay, từ đó hạn chế những rủi ro cho người dân từ hoạt động công vụ. 
Sau hơn bốn năm thực hiện Luật, số lượng các việc yêu cầu bồi thường nhà nước là không lớn. Số lượng vụ việc yêu cầu bồi thường hàng năm trên thực tế mới chỉ đến con số hàng trăm, điều này chưa phản ánh đúng thực trạng đời sống. Theo báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội về công tác bồi thường nhà nước năm 2013, có tổng số 82 đơn yêu cầu bồi thường, đã thụ lý 61 đơn. Đã có 37 vụ được giải quyết xong. Số tiền Nhà nước phải bồi thường là gần 15,7 tỷ đồng. Bên cạnh đó đã có 20 trường hợp người bị thiệt hại khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết bồi thường, 11 trường hợp trong đó đã được bồi thường với số tiền là 22,7 tỷ đồng. 
Theo số liệu báo cáo tình hình thực hiện Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước của Cục Bồi thường nhà nước thì 6 tháng đầu năm 2014, đã giải quyết 86 vụ việc bồi thường nhà nước trên phạm vi cả nước (trong đó có 41 vụ việc thụ lý mới, tăng 30,3% so cùng kỳ năm 2013), đã giải quyết xong 23/83 việc (đạt tỉ lệ 26,7%) với số tiền Nhà nước phải bồi thường là 2.498,227 triệu đồng. Đã có 12 trường hợp người bị thiệt hại khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo quy định tại Điều 22 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, trong đó 06 vụ việc trong hoạt động tố tụng hình sự với số tiền phải bồi thường là 70,000 triệu đồng; 06 vụ việc trong lĩnh vực quản lý hành chính.
Thực trạng này có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ những bất cập trong quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Để nâng cao hiệu quả trong công tác thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cần được nghiên cứu, hoàn thiện các nội dung sau:
Phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính
Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính được quy định tại Điều 13 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo phương pháp liệt kê, trong đó quy định 11 nhóm hành vi được liệt kê cụ thể và có những hành vi quy định theo hướng mở. Các nhóm hành vi này được liệt kê trên cơ sở tổng hợp 22 nhóm hành vi (quyết định hành chính và hành vi hành chính) được khiếu kiện vụ án hành chính theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (Điều 11). Tuy nhiên, Luật Tố tụng hành chính (có hiệu lực từ ngày 01-7-2011) và Luật Khiếu nại (có hiệu lực từ ngày 01-7-2012) không quy định hạn chế phạm vi quyết định hành chính, hành vi hành chính được khiếu kiện ra tòa và quy định các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan quản lý nhà nước nếu gây ra thiệt hại thì người bị thiệt hại có quyền được bồi thường (Điều 6 Luật Tố tụng hành chính và điểm i, khoản 1, Điều 12 và điểm e, khoản 2, Điều 13 Luật Khiếu nại, quy định về quyền của người khiếu nại, người khởi kiện và trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn cho người bị thiệt hại).
Để bảo đảm sự tương thích giữa Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước với Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính, đề nghị phạm vi bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính được mở rộng theo hướng: Quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật làm phát sinh thiệt hại cho tổ chức, công dân thì Nhà nước phải bồi thường. 
Căn cứ xác định và căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Để thực hiện quyền yêu cầu bồi thường, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định cá nhân, tổ chức bị thiệt hại trước tiên phải thực hiện thủ tục xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Chỉ khi nào cơ quan có thẩm quyền có văn bản giải quyết khiếu nại kết luận hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ mới có đủ điều kiện tiến hành các thủ tục yêu cầu bồi thường. Các công chức nhà nước khi thi hành công vụ rất ít trường hợp tự nhận mình sai, việc chứng minh hành vi trái pháp luật của công chức nhà nước trong khi thi hành công vụ gây ra thiệt hại là vấn đề khó khăn. Bởi cơ quan, công chức nhà nước là những chủ thể thực thi quyền lực nhà nước, có xu hướng và điều kiện che giấu, hợp pháp hoá những việc làm sai trái (nếu có) của mình. Thậm chí, còn có thể liên kết, bảo vệ lẫn nhau hoặc đổ lỗi cho nhau và không ai chịu nhận là phải có trách nhiệm bồi thường. Thực tiễn cho thấy nhiều vụ việc đã được các cơ quan có thẩm quyền thừa nhận là có sai sót gây thiệt hại nhưng những chủ thể phải bồi thường cũng tìm cách dây dưa, kéo dài không muốn thi hành quyết định bồi thường trên thực tế. 
Theo quy định tại Điều 6 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì để thực hiện quyền yêu cầu bồi thường, người bị thiệt hại trước tiên phải thực hiện thủ tục xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Quy định này đã đặt thêm thủ tục cho người bị thiệt hại so với quy định của Bộ luật Dân sự (tại Điều 619 về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra và Điều 620 về bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, của Bộ luật Dân sự không quy định người bị thiệt hại phải có văn bản xác định hành vi trái pháp luật làm căn cứ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết bồi thường). Việc xác định có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ hay không sẽ được thực hiện trong thủ tục giải quyết bồi thường. Do đó, việc trước khi yêu cầu bồi thường nhà nước, người bị thiệt hại phải thực hiện thủ tục riêng về xác định hành vi trái pháp luật là lý do một số tổ chức, cá nhân cho rằng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chưa thực sự tạo thuận lợi cho người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường.
Để khắc phục bất cập nêu trên, đề nghị nghiên cứu hoàn thiện theo hướng gộp hai quy trình: quy trình xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và quy trình giải quyết bồi thường là một. Theo đó, khi cho rằng mình bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Cơ quan đại diện Nhà nước có trách nhiệm giải quyết bồi thường sẽ thực hiện đồng thời cả hai quy trình trên để bảo đảm tính liên tục và giúp giảm thủ tục phải thực hiện cho người dân.
Về thủ tục giải quyết bồi thường
Việc giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường là thủ tục bắt buộc. Sau khi thụ lý đơn và xác minh yêu cầu bồi thường của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại, cơ quan có trách nhiệm bồi thường cử người đại diện có thẩm quyền trực tiếp thương lượng và việc thương lượng phải được lập thành biên bản, kết quả thương lượng là cơ sở để quyết định việc bồi thường. Thực tế cho thấy, nhiều vụ việc thương lượng kéo dài mà không đạt được kết quả, ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. 
Do không bình đẳng trong quan hệ yêu cầu bồi thường, trong đó cá nhân, tổ chức có nhiều điểm bất lợi nhưng họ không có cách nào khác là trước khi chọn phương án kiện ra Tòa án thì vẫn phải thương lượng với cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Điều này đặt ra vấn đề là cần nghiên cứu sửa đổi để cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có thể lựa chọn phương án tốt hơn để yêu cầu bồi thường theo hướng có thể thông qua thương lượng hoặc có thể kiện ngay ra Tòa án.
Về trách nhiệm hoàn trả
Thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cho thấy, việc thực hiện trách nhiệm hoàn trả còn hạn chế. Mức hoàn trả kinh phí không được quy định trong Luật mà được quy định trong Nghị định số 16/2010/NĐ-CP ngày 03-3-2010 của Chính phủ. Theo Nghị định này, trách nhiệm hoàn trả của công chức khi vi phạm pháp luật trong nhiều trường hợp còn thấp, chưa tương xứng với khoản tiền mà Nhà nước chi trả bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại nên chưa đủ sức răn đe. Do vậy, cần có sự nghiên cứu và sửa đổi, bổ sung phù hợp để công chức đủ tự tin, yên tâm và có trách nhiệm cao trong thi hành công vụ. Việc xác định mức hoàn trả cần phải xem xét trên mức độ lỗi, trách nhiệm của công chức trong mỗi vụ việc để buộc họ phải tiến hành hoàn trả lại kinh phí cho Ngân sách Nhà nước. 
Về thời hiệu, thời hạn bồi thường
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường là 02 năm kể từ ngày có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Quy định như vậy là chưa thống nhất với quy định của các luật chuyên ngành liên quan, gây khó hiểu và nhầm lẫn cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nói riêng chỉ phát sinh khi có thiệt hại thực tế xảy ra. Theo quy định của pháp luật dân sự thì thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm hoặc kể từ ngày biết quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm (điểm a khoản 3 Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu). Thực tế, trong nhiều trường hợp, do người bị thiệt hại không nắm bắt được quy định đặc thù về thời hiệu yêu cầu bồi thường nhà nước nên đã thực hiện quyền yêu cầu bồi thường trong thời hạn 02 năm kể từ ngày có thiệt hại xảy ra nhưng họ lại chưa có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Khi được cơ quan nhà nước hướng dẫn về điều kiện yêu cầu bồi thường là phải có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, người bị thiệt hại thực hiện thủ tục xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thì thời hiệu giải quyết khiếu nại hoặc thời hiệu giải quyết vụ án hành chính đã hết. 
Để khắc phục hạn chế này, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cần hoàn thiện theo hướng áp dụng nguyên tắc xác định thời hiệu yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự.
Về mô hình quản lý và cấp phát kinh phí 
Theo quy định tại Điều 52 của Luật về kinh phí bồi thường, nguồn kinh phí chi trả tiền bồi thường được sử dụng từ ngân sách trung ương (do Bộ Tài chính quản lý) và ngân sách địa phương (do Sở Tài chính quản lý). Thực tiễn cho thấy, việc sử dụng, cấp phát kinh phí như vậy là bất cập, nhất là đối với cơ quan được tổ chức theo hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương. Ví dụ: Chi cục thi hành án dân sự là cơ quan có trách nhiệm bồi thường, sau khi giải quyết xong việc bồi thường, việc đề nghị cấp phát kinh phí được thực hiện trải qua nhiều cấp phê duyệt như: Bộ Tư pháp (Cục Thi hành án dân sự, Tổng cục Thi hành án dân sự, Vụ Kế hoạch - Tài chính Bộ Tư pháp) và Bộ Tài chính (Vụ Hành chính sự nghiệp). 
Điều 54 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định việc cấp kinh phí được thực hiện trong thời hạn là 5 ngày làm việc kể từ khi quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực, cơ quan có trách nhiệm phải gửi hồ sơ đề nghị cấp kinh phí cho cơ quan có thẩm quyền và sau 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị cấp phát kinh phí, cơ quan nhận được hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị bồi thường để cấp kinh phí hoặc có văn bản gửi cơ quan tài chính cùng cấp đề nghị cấp kinh phí bồi thường; trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ thì hướng dẫn cơ quan có trách nhiệm bồi thường bổ sung hồ sơ hoặc sửa đổi, bổ sung quyết định giải quyết bồi thường. Thời hạn bổ sung hồ sơ không quá 15 ngày. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 20 về quyết định giải quyết bồi thường và Điều 21 về hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì: quyết định giải quyết bồi thường phải được ban hành trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc việc thương lượng và quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày người bị thiệt hại nhận được quyết định, trừ trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý và khởi kiện ra Toà án. 
Việc cấp phát kinh phí phải qua nhiều cơ quan xem xét, thẩm định và phê duyệt sẽ không bảo đảm thời hạn có hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường, dẫn đến phải chi trả thêm tiền lãi suất của số tiền bồi thường do chậm trả. Đồng thời, quy định này gây phiền hà cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường cũng như phát sinh thêm hoạt động nghiệp vụ cụ thể cho cơ quan quan lý nhà nước của Bộ Tài chính. Để khắc phục bất cập này, đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 52 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo hướng: Giao nhiệm vụ lập dự toán ngân sách và cấp kinh phí thực hiện trách nhiệm bồi thường của nhà nước cho từng bộ, ngành quản lý (ở trung ương) và cho Sở Tài chính (cấp tỉnh) và Phòng Tài chính - Kế hoạch (cấp huyện) quản lý. 
Về cơ quan giải quyết bồi thường
Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại (Điều 14); cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự là cơ quan được quy định tại các Điều 29, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án hình sự là trại giam, trại tạm giam, cơ quan quản lý nhà tạm giữ, cơ quan công an có thẩm quyền và Toà án ra quyết định thi hành án và cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự là cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại (Điều 40). Như vậy, Luật quy định cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo mô hình phân tán. Ưu điểm của mô hình này là gắn hoạt động chuyên môn khi giải quyết bồi thường và không làm phát sinh bộ máy. Tuy nhiên, điểm hạn chế cơ bản của mô hình này là: có nguy cơ thiếu khách quan trong hoạt động giải quyết bồi thường; người bị thiệt hại trong nhiều trường hợp không xác định được cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc phải chờ đợi cơ quan có thẩm quyền xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường; không bảo đảm tính chuyên nghiệp trong giải quyết bồi thường, dẫn đến lúng túng, kéo dài thời gian giải quyết, gây bức xúc cho người bị thiệt hại, gây khó khăn cho người bị thiệt hại, phát sinh các thủ tục không cần thiết. Để giải quyết bất cập này, đề nghị nghiên cứu, thực hiện theo hướng giao cho một cơ quan làm đầu mối tiếp nhận và thay mặt Nhà nước giải quyết bồi thường cho tổ chức, công dân bị thiệt hại. Khi thay mặt Nhà nước giải quyết, cơ quan đại diện Nhà nước thực hiện giải quyết bồi thường sẽ phối hợp với cơ quan quản lý người thi hành công vụ để giải quyết. Trường hợp xác định người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại thì cơ quan giải quyết bồi thường ban hành quyết định bồi thường. Trường hợp xác định người thi hành công vụ không thực hiện hành vi trái pháp luật hoặc không gây ra thiệt hại thì không ban hành quyết định giải quyết bồi thường. Người bị thiệt hại có quyền khởi kiện vụ án về bồi thường nhà nước nếu như không nhất trí với quyết định của cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước./.
ThS. Lê Thị Hoa - Học viện Hành chính quốc gia
Theo: tapchicongsan.org.vn
[2107]
Về trách nhiệm bồi thường của Nhà nướcẢnh minh họa: internet   Ngày 18/6/2009, kỳ họp thứ 5 Quốc hội Khóa XII đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Sự ra đời của Luật đánh dấu một bước tiến mới trong tư duy lập pháp
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
TIN MỚI NHẤT
Một số giải pháp nâng cao đạo đức công chức
Vượt qua rào cản từ nhận thức khi triển khai dịch vụ công trực tuyến mức 3 cấp xã
Một số ý kiến về việc thực hiện cơ chế “phân cấp” theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
Các tin khác
Tin hoạt động Tổ chức nhà nước
(08/12/2016 05:18)
Bế giảng lớp bồi dưỡng ngạch Chuyên viên chính khoá 35 và Chuyên viên khóa 37
Sáng 08/12/2016, tại Hà Nội, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức - Bộ Nội vụ tổ chức Lễ Bế giảng 02 lớp bồi dưỡng  ...
Tin mới nhất

Hội nghị cán bộ toàn quốc phổ biến, quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Không đơn thuần là thất thoát ngân sách

Năm 2018: 80% thủ tục xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh qua Một cửa quốc gia

Bế giảng lớp bồi dưỡng ngạch Chuyên viên chính khoá 35 và Chuyên viên khóa 37

Tổ chức lớp Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng nghiên cứu khoa học năm 2016

Bàn về thi tuyển các chức danh công chức lãnh đạo hiện nay

Kỷ cương và đồng hành

Tin xem nhiều

Quản lý nhà nước về kinh tế - một số vấn đề đặt ra trước yêu cầu đổi mới

Xác định chức danh của những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

Một số vấn đề về chính sách công ở Việt Nam hiện nay

Chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 2013 và việc xây dựng Luật về hoạt động của Chủ tịch nước

Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp huyện, cấp xã

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay

Bàn về pháp chế xã hội chủ nghĩa trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Tuấn
Trụ sở tòa soạn: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0804 6422, 0804 6543; Fax: 0804 6621 - Email: Tapchitcnn@moha.gov.vn
Bản quyền thuộc Tạp chí Tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ
Giấy phép xuất bản: Số 407/GP-BTTT ngày 27/9/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

®Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước là cơ quan báo chí của Bộ Nội vụ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.