06/03/2015 02:52
Điều trần, góc đo tâm lý lập pháp Việt Nam

Điều trần tại Ủy ban của nghị viện đã trở nên phổ biển ở các nước, được áp dụng trong cả lập pháp và giám sát, thậm chí nhiều hơn trong lập pháp. Còn ở Việt Nam, trong vài năm vừa qua, những phiên giải trình bắt đầu tại Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban hầu như mang đậm tính chất giám sát. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, có thể tiến hành điều trần ở Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban.

Qua quan sát, phân tích, có thể nhận thấy, có cả khó khăn và thuận lợi trong cách hiểu về khái niệm điều trần và giải trình ở Việt Nam hiện nay, từ đó dẫn đến cách thức tiến hành giải trình trên thực tế. Thuật ngữ gốc hearing trong tiếng Anh được dịch sang tiếng Việt thành điều trần, khiến cho người nghe nghĩ nhiều đến sự đụng chạm giữa lập pháp và hành pháp; là truy đến cùng (hàm ý truy trách nhiệm), là gay gắt hơn; coi đại diện của hành pháp được mời đến phiên điều trần là đối tượng bị điều trần. Có những ý kiến chưa phân biệt được sự khác nhau giữa điều trần và chất vấn, coi điều trần là chất vấn ở Ủy ban. Thực ra cũng là cách nghĩ, chỉ là cách nghĩ mang tính bao cấp, mang đặc trưng của tư duy đã là cấp này, tầng nọ thì không được, không nên và không bị đụng đến, không được phép đụng đến...
Quan niệm nêu trên sẽ làm cho điều trần diễn ra theo tính chất của chất vấn, không đúng với mục tiêu của điều trần. Bên cạnh đó, những người có quan niệm này sẽ không trả lời được câu hỏi: trong điều trần ngoài phía Chính phủ thì không thể thiếu công chúng, bao gồm cả những công dân bình thường nhất đến để cung cấp thông tin cho Ủy ban, vậy nếu gọi đây là chất vấn ở Ủy ban, thì chất vấn ai? Hơn nữa, cách hiểu điều trần là chất vấn ở Ủy ban tạo ra nghịch lý là: mặc dù trong thâm tâm không muốn sự đối đầu, mong muốn sự hợp tác từ phía các bộ, ngành, nhưng trên thực tế, cách làm theo cách hiểu này lại có rủi ro dẫn đến sự căng thẳng giữa hai bên, bởi lẽ đã là chất vấn thì phải truy trách nhiệm.
Mặt khác, cũng có nhận thức khác liên quan đến khái niệm điều trần. Đặc biệt, trong QH đã có những ý kiến nhận định đúng về tính chất, mục đích của hoạt động điều trần. Chẳng hạn, Ủy ban Tư pháp của QH Khóa XII đã nêu rõ, mục đích, tác dụng của điều trần là thu thập thông tin, làm sáng tỏ những vấn đề chính sách trong dự án luật để chuẩn bị cho hội nghị toàn thể của Ủy ban hoặc làm rõ những vấn đề khác theo sự quan tâm riêng của nghị sỹ; không nhất thiết là những vấn đề có sai sót trong thi hành pháp luật; tạo sự đồng thuận trong việc xây dựng chính sách, pháp luật; kiểm tra việc thực hiện chức trách của Bộ trưởng và các cơ quan hữu quan. Hoặc tại một số cuộc tọa đàm, hội thảo, nhiều thành viên của các Ủy ban đã cho rằng, mục đích chính của điều trần không phải là tìm kiếm lỗi lầm, mà chỉ nhằm thu thập thông tin nhiều chiều; điều trần là công việc chuyên sâu, nên giao cho các tiểu ban; điều trần phục vụ cho cả giám sát và lập pháp; không nên quá băn khoăn về tên gọi, mà chủ yếu là làm cho đúng tính chất của điều trần...
Qua việc đổi mới các phiên họp giải trình, có thể nhận thấy mục đích, ý nghĩa, tác dụng tích cực của hoạt động này. Ngay từ khi lập kế hoạch tổ chức các phiên giải trình, lãnh đạo các cơ quan của QH đã xác định, đây là một dịp trao đổi thông tin giữa các bộ, ngành với các cơ quan của QH; tạo điều kiện để Chính phủ và các cơ quan thuộc Chính phủ giải trình; làm sáng tỏ hơn cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn về hoạch định chính sách.
Từ cuối năm 2009 đến nay, Hội đồng Dân tộc và tất cả các Ủy ban đã áp dụng các yếu tố của điều trần vào các phiên giải trình của Ủy ban. Sau khi tiến hành giải trình, Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Bùi Sĩ Lợi nhận định, hiệu quả của phiên giải trình là nhìn thấy ngay, có tác động nhanh và kịp thời luôn đến các bộ, ngành.
Những phiên giải trình làm cho ĐBQH thấu hiểu cách triển khai thực hiện của cơ quan chức năng; góp thêm cho Chính phủ đề xuất, đánh giá định hướng giai đoạn tiếp theo. Tác dụng của các phiên giải trình ở chỗ chúng là một phần hữu cơ trong cả một quá trình thu thập thông tin, tìm kiếm giải pháp, hướng đến ra quyết sách cuối cùng của QH.
Đặc biệt, đại diện các cơ quan của QH đã tiến hành giải trình nhấn mạnh tính chất hợp tác trong giải trình. Các cơ quan của Chính phủ cần phải thấy việc đưa ra mổ xẻ nguyên nhân, đánh giá các tồn tại, phê phán như vậy là để rút ra bài học. Cũng lại Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Bùi Sĩ Lợi đúc kết, qua cuộc giải trình về giá thuốc, ngành y tế và Ủy ban chúng tôi đã thấu hiểu được nhau hơn.
Tính chất quan trọng trong hoạt động của QH là phải công khai, minh bạch. Đó cũng là lý do mà vì sao tại các phiên giải trình, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban mời đại diện của khá nhiều cơ quan báo chí. Sự hiện diện của truyền thông tạo nên giá trị, vì qua báo chí, công chúng có thể tìm hiểu về công việc của các Ủy ban. Ngoài ra, truyền thông cung cấp bằng chứng rõ ràng, cho công chúng thấy rằng Ủy ban đang làm công việc của mình theo đúng quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, tính minh bạch còn thể hiện ở chỗ, các phiên giải trình đã đưa ra trước thiên hạ những vấn đề phức tạp trong lĩnh vực quản lý nhà nước, do đó tăng cường tính minh bạch trong các hoạt động của Chính phủ và giúp cử tri, nhân dân hiểu hơn về các vấn đề này.
Mỗi phiên họp giải trình cần thời gian chuẩn bị khá dài, thường khoảng 1-2 tháng, bao gồm các công việc: lựa chọn vấn đề, lên kế hoạch, kinh phí, xác định thành phần, liên hệ và mời các bên liên quan, chuẩn bị kịch bản, bộ câu hỏi...
Để tổ chức được một phiên giải trình, quan trọng nhất là lựa chọn vấn đề và sắp xếp thời gian. Các vấn đề được đưa ra giải trình trong các năm qua đều mang tính chất thiết thực, liên quan trực tiếp đến đời sống của người dân như chuẩn nghèo; giá thuốc; chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư ở miền núi; việc đầu tư xây dựng, quản lý, sử dụng các cơ sở vui chơi, giải trí dành cho trẻ em; tái cơ cấu ngành nông nghiệp; xử phạt hành chính trong giao thông đường bộ, cách tính diện tích căn hộ... Đây cũng là những nội dung thuộc thẩm quyền giám sát của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban, nằm trong chương trình hoạt động của các cơ quan này, được tích tụ từ quá trình trước đó, đến thời điểm được chọn đã chín để đưa ra giải trình. Hầu hết các vấn đề đó thuộc lĩnh vực giám sát, rất ít vấn đề thuộc chương trình lập pháp của QH.
Mặt khác, các phiên họp giải trình của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban còn có những hạn chế, ví dụ hầu như chỉ mời đại diện của các bộ, ngành liên quan đến vấn đề đưa ra giải trình. Bên cạnh đó, tại một số phiên giải trình như phiên giải trình của Ủy ban Kinh tế về tái cơ cấu ngành nông nghiệp có sự tham dự của 30 nông dân có kiến thức sâu về lĩnh vực nông nghiệp, một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và hợp tác xã đại diện cho lực lượng nông dân, doanh nghiệp của cả nước. Hay tại phiên giải trình của Ủy ban Pháp luật về cách tính diện tích căn hộ chung cư có sự tham gia của một số chủ hộ đã mua chung cư. Có Ủy ban mời một số chuyên gia, nhưng họ không được coi là ngang bằng với đại diện các bộ, ngành trong việc cung cấp thông tin, mà chỉ phát biểu một lần, giống như trong một cuộc hội thảo. Tuy nhiên, trong phần lớn các trường hợp, dường như cơ quan của QH đều không mời những chủ thể quan trọng nhất, không thể thiếu trong điều trần - đó là đại diện của các nhóm trong xã hội như hiệp hội, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp, những người am hiểu vấn đề, và nhất là công dân với tư cách là cá thể...  Cũng dễ hiểu vì chúng ta chưa có tập quán này.
Điều này có lẽ xuất phát từ quan niệm về phiên họp giải trình có nghĩa là bộ, ngành phải giải trình là chính về trách nhiệm quản lý đối với vấn đề đưa ra giải trình, còn các chủ thể khác chỉ là phụ. Trong khi đó, trong quá trình điều trần ở Ủy ban của nghị viện các nước, mọi chủ thể được mời đến trình bày đều được coi ngang nhau về mặt cung cấp thông tin, đều được gọi chung là nhân chứng; mỗi nhân chứng nắm giữ thông tin mình trực tiếp biết. Ủy ban mời các nhân chứng không phải là đại diện của bộ, ngành là để nghe thêm những nguồn thông tin khác, từ đó đối chiếu, đối chứng, kiểm chứng các nguồn thông tin, nhất là kiểm chứng thông tin của các bộ, ngành. Tính chất đối chứng này sẽ giảm thiểu rủi ro các bộ, ngành cung cấp thông tin không đầy đủ, một chiều, cũng là tăng trách nhiệm giải trình của các bộ, ngành và Chính phủ...
Trong các luật liên quan đến hoạt động của QH và các cơ quan của QH như Luật Tổ chức QH, Luật Hoạt động giám sát của QH, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Quy chế hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban đã có những quy định tạo cơ sở cho các Ủy ban tiến hành các hoạt động gần với tính chất điều trần.
Trong hoạt động giám sát, theo quy định tại Điều 82, Luật Tổ chức QH năm 2014, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban có quyền yêu cầu đại diện các cơ quan nhà nước và cá nhân hữu quan giải trình về những vấn đề thuộc lĩnh vực Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của QH phụ trách. Người nhận được yêu cầu của Hội đồng hoặc Ủy ban phải đáp ứng yêu cầu đó. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban phải kết luận về vấn đề được giải trình và gửi đến UBTVQH, các ĐBQH và các cơ quan, tổ chức hữu quan. Luật Hoạt động giám sát của QH, Quy chế hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của QH quy định tương tự.
Bên cạnh đó, theo khoản 1, Điều 27, Luật Hoạt động giám sát của QH, các Ủy ban tiến hành thẩm tra báo cáo công tác của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Phiên họp thẩm tra là phiên họp toàn thể, chỉ có các thành viên Ủy ban thảo luận, vì vậy không thích hợp để áp dụng điều trần. Tuy nhiên, trước khi tiến hành họp thẩm tra, có quá trình chuẩn bị thẩm tra. Đây là khâu có thể áp dụng điều trần để thu thập thông tin, hỗ trợ các thành viên Ủy ban tiến hành phiên họp thẩm tra tốt hơn.
Trong hoạt động lập pháp, Điều 82, Luật Tổ chức QH năm 2014 yêu cầu các đối tượng giải trình về những vấn đề thuộc lĩnh vực Hội đồng Dân tộc, Ủy ban phụ trách. Có thể hiểu đó là những vấn đề thuộc cả lĩnh vực lập pháp và giám sát. Bên cạnh đó, Điều 4, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định về lấy ý kiến công chúng trong quá trình xây dựng pháp luật. Điều 41 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008, Điều 21 Quy chế hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban quy định về hoạt động thẩm tra là những cơ sở pháp lý để tiến hành các hoạt động mang yếu tố điều trần. Kết hợp các điều khoản này, có thể áp dụng điều trần trong khâu chuẩn bị thẩm tra để lấy ý kiến công chúng về những vấn đề trong dự án luật mà Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban thấy cần thiết. Thông tin thu nhận được từ điều trần sẽ là một nguồn thông tin rất quan trọng để Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban tiến hành thẩm tra chính thức hoặc sơ bộ đối với dự án luật.
Hơn nữa, Điều 82, Luật Tổ chức QH năm 2014 có một số điểm mới đáng chú ý sau đây:
Thứ nhất, cùng với đại diện các cơ quan nhà nước được xác định rõ, Điều 82 bổ sung cụm từ cá nhân hữu quan để chỉ các chủ thể mà Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban có quyền yêu cầu giải trình. Có thể hiểu cá nhân hữu quan không chỉ trong bộ máy nhà nước mà cả các tổ chức xã hội, hiệp hội, tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp, viện, trường, chuyên gia, cá nhân công dân... Như vậy, Luật sửa đổi lần này đã làm rõ hơn các đối tượng được mời đến giải trình, tạo cơ sở để mời thành phần đa dạng, đầy đủ hơn.
Thứ hai, Điều 82 yêu cầu các đối tượng giải trình về những vấn đề thuộc thuộc lĩnh vực lập pháp và giám sát, tạo căn cứ pháp lý để Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban tổ chức các phiên giải trình trong cả hai lĩnh vực này.
Thứ ba, như đã nêu ở trên, Điều 82 quy định, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban phải kết luận về vấn đề được giải trình; kết luận của Hội đồng, Ủy ban được gửi đến UBTVQH, các ĐBQH và các cơ quan, tổ chức hữu quan. Sắp tới, cần làm rõ khái niệm kết luận trong Quy chế hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban. Có thể hiểu kết luận chỉ chính kiến của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban về vấn đề được đưa ra điều trần, những kiến nghị chính để cải thiện tình hình. Đối chiếu với các nước, Ủy ban của nghị viện sau khi tiến hành điều trần đều ra báo cáo, trong đó có phần kiến nghị các giải pháp lớn đối với những việc đưa ra điều trần.
Tuy nhiên, để có cơ sở đầy đủ, vững chắc hơn trong việc áp dụng điều trần vào các hoạt động này, cần sửa đổi các quy định liên quan trong Luật Hoạt động giám sát của QH, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, nhất là quy định cụ thể, rõ ràng hơn về thành phần mời dự, quyền, trách nhiệm của các chủ thể; quy trình, thủ tục tiến hành phiên giải trình. Đặc biệt, cần quy định về giải trình trong Luật Ban hành văn bản pháp luật (sửa đổi) thành một yêu cầu bắt buộc trong quy trình lập pháp, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc hơn cho Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban tiến hành các phiên giải trình phục vụ cho hoạt động thẩm tra các dự án luật.
Cùng với việc thành lập Ủy ban điều tra vụ việc và chất vấn, điều trần tại Ủy ban của nghị viện được coi là hình thức giám sát hiệu quả ở nhiều nước. Có thể ví điều trần là hàn thử biểu của cơ quan lập pháp đo tâm trạng công chúng. Ở nước ta, phiên giải trình có những nét hao hao phiên điều trần. Hao hao thì không có nghĩa là giống hoàn toàn và cũng không bao giờ giống được cả. Nhưng có thể học được những nét hợp lý của điều trần để áp dụng vào giải trình ở các Ủy ban của QH Việt Nam, từ đó tiến tới đưa điều trần thành hoạt động thường xuyên, chính thức trong hoạt động của các Ủy ban. Điều này sẽ có lợi cho tất cả: làm cho hoạt động giải trình thực chất, hiệu quả hơn; tăng cường vai trò của các Ủy ban; giúp QH thực hiện đúng vai trò trong quy trình lập pháp, giám sát; tạo điều kiện cho các chủ thể trong xã hội được lên tiếng trong hoạt động của QH.
Nhưng tại sao, chúng ta đã đổi mới, đã tiệm cận thậm chí đã có lãnh đạo những nghị viện hàng đầu thế giới dự, lắng nghe các phiên chất vấn của QH ta và ngạc nhiên về sự dân chủ trong tranh luận, tranh biện của các ĐBQH... Chúng ta vẫn còn e ngại hai chữ điều trần?
Do vậy, cần nghiên cứu tổng kết hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban đã tiến hành lâu nay, trong đó có hoạt động giải trình tại Ủy ban. Đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, qua đó xây dựng cơ sở pháp lý cụ thể cho hoạt động giải trình, cụ thể hơn là điều trần phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Từ đó, có thể nói, trở ngại lớn nhất là nhận thức về sự cần thiết của hoạt động điều trần đã vượt qua những e ngại ban đầu.
                                                                                                                         Nguyễn Đức Lam
Theo: daibieunhandan.vn
[1795]
Điều trần, góc đo tâm lý lập pháp Việt NamQua quan sát, phân tích, có thể nhận thấy, có cả khó khăn và thuận lợi trong cách hiểu về khái niệm điều trần và giải trình ở Việt Nam hiện nay, từ đó dẫn đến cách thức tiến hành giải trình trên thực tế. Thuật ngữ gốc hearing trong tiếng Anh được dịch sang
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
TIN MỚI NHẤT
Quyền lợi và trách nhiệm trong hoạt động quản lý
Giám sát về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước: Tập trung vào tổ chức và nhân sự
Kiên quyết với tham nhũng và lợi ích nhóm
Các tin khác
Tin hoạt động Tổ chức nhà nước
(06/12/2016 02:32)
Xây dựng Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 41/2012/NĐ-CP của Chính phủ
Sáng 06/12/2016, tại trụ sở Bộ, Bộ Nội vụ tổ chức Họp Ban soạn thảo, Tổ biên tập xây dựng Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung  ...
Tin mới nhất

Phú Yên nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở

Thông qua dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết và phù hợp với công ước quốc tế

“Cấp trên gương mẫu không nhận quà, cấp dưới không thể đến”

Khẩn trương nghiên cứu, đề xuất xây dựng quy định về từ chức

Hà Nội kiện toàn sắp xếp tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế lớn nhất từ trước tới nay

Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và những vấn đề cần hoàn thiện

Xây dựng Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 41/2012/NĐ-CP của Chính phủ

Tin xem nhiều

Quản lý nhà nước về kinh tế - một số vấn đề đặt ra trước yêu cầu đổi mới

Xác định chức danh của những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

Một số vấn đề về chính sách công ở Việt Nam hiện nay

Chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 2013 và việc xây dựng Luật về hoạt động của Chủ tịch nước

Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp huyện, cấp xã

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay

Bàn về pháp chế xã hội chủ nghĩa trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Tuấn
Trụ sở tòa soạn: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0804 6422, 0804 6543; Fax: 0804 6621 - Email: Tapchitcnn@moha.gov.vn
Bản quyền thuộc Tạp chí Tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ
Giấy phép xuất bản: Số 407/GP-BTTT ngày 27/9/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

®Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước là cơ quan báo chí của Bộ Nội vụ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.