12/02/2015 01:36
Tiếp thu ở thế chủ động và vì lợi ích đất nước

Việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong quá trình xem xét, xây dựng hệ thống pháp luật của một quốc gia là có thể làm được. Tuy nhiên, mọi sự tiếp nhận đều cần có sự chỉnh sửa, thay đổi cần thiết, chứ không thể sao chép máy móc.

Sự du nhập pháp luật nước ngoài vào Việt Nam do nhu cầu nội tại từ quá trình đổi mới, xuất phát từ lợi ích của đất nước và được thực hiện ở  thế chủ động
Bản thân nguồn gốc ngoại của quy phạm pháp luật không phải là rào cản đối với sự tiếp nhận. Ngay bản thân các hệ thống pháp luật chứa đựng những giải pháp nội do các nhà lập pháp nội tự nghĩ ra cũng không chắc mọi giải pháp nội đều vận hành tốt. Việc thay đổi các quy định, thiết chế có nguồn gốc ngoại nhập như thế nào sẽ do điều kiện cụ thể của quốc gia tiếp nhận quyết định. Tuy nhiên, trước khi tiến hành việc tiếp nhận, điều quan trọng là các nhà lập pháp cần xác định xem giải pháp ngoại nhập có ăn khớp với hệ thống pháp luật hiện tại cũng như văn hóa pháp lý bản địa hay không. Thêm vào đó, sau khi được tiếp nhận, các quy phạm có nguồn gốc ngoại có thể sẽ bị tiếp biến để trở thành phiên bản mới không nhất thiết trùng khớp với các hiểu biết ban đầu ở nước xuất khẩu quy phạm pháp luật ấy.
Có thể thấy, dù còn nhiều quan điểm khác nhau về việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài, nhưng điểm chung giữa các quan điểm này là đưa ra các giải pháp pháp lý phù hợp để giải quyết vấn đề phát triển phải là sản phẩm của quá trình cân nhắc kỹ lưỡng, là sản phẩm của sự lựa chọn, quyết định có đầy đủ thông tin.
Với giới nghiên cứu luật Việt Nam, hiện tượng tiếp nhận pháp luật nước ngoài còn ít được nghiên cứu với chiều sâu cần thiết về lý luận. Hơn nữa, từ việc nghiên cứu để nhận diện cho đúng bản chất của hiện tượng chuyển hóa pháp luật nước ngoài ở nước ta để đưa ra những khuyến nghị về xây dựng pháp luật nhằm tìm ra giải pháp lập pháp hợp lý vẫn đang là mảnh đất cần tiếp tục khai phá của giới nghiên cứu khoa học pháp lý.
Đương nhiên, không chờ đến khi đưa ra được lý thuyết phù hợp về việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài, thì hiện tượng tiếp nhận pháp luật nước ngoài vẫn cứ diễn ra. Ngay bản thân Bộ luật Hồng Đức ở thế kỷ XV, bộ luật được xem là niềm tự hào của người Việt một thời cũng hàm chứa không ít nội dung mang tính chất kế thừa kinh nghiệm lập pháp của một số triều đại ở Trung Quốc. Nhìn rộng ra, việc du nhập các giá trị văn hóa từ nước ngoài đã được người Việt tiến hành thậm chí hàng thế kỷ trước đó. Không thừa nhận thực tế này có lẽ chúng ta sẽ không thể lý giải được vì sao đạo Phật, Nho giáo... lại có mặt trong nền văn hóa Việt Nam và góp phần làm sâu sắc thêm, giàu có thêm nền văn hóa và tâm hồn người Việt. Tiếp nhận pháp luật cũng không chỉ diễn ra trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Nhưng có lẽ trong gần 3 thập niên vừa qua là giai đoạn mà hiện tượng tiếp nhận pháp luật nước ngoài ở nước ta diễn ra thật sự rõ nét. Điều đó trước hết xuất phát từ nhu cầu nội tại của Việt Nam. Quá trình tiếp nhận pháp luật nước ngoài ấy cũng được thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau.
Qua thực tế gần 20 năm gắn bó với công tác nghiên cứu và xây dựng pháp luật cho thấy, trước khi xây dựng bất cứ dự án luật lớn nào của nước ta, các cơ quan chủ trì soạn thảo thường cử các đoàn cán bộ nghiên cứu, học tập kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài. Ví dụ, trong đợt sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 vừa qua, hàng chục bản Hiến pháp của các nước đã được dịch thuật, nghiên cứu, đối chiếu để cung cấp thêm thông tin, chất liệu phục vụ Ban biên tập, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Đi kèm với việc nghiên cứu này là việc các cơ quan có thẩm quyền phối hợp với các đối tác của Đức, Nhật Bản... tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, chia sẻ kinh nghiệm quốc tế trong việc xử lý các vấn đề trong quá trình sửa đổi Hiến pháp.
Ngoài ra, việc đàm phán các hiệp định thương mại với các đối tác cũng góp phần tạo thêm động lực, thậm chí sức ép để quá trình tiếp nhận pháp luật nước ngoài, hay các chuẩn mực quốc tế, diễn ra nhanh hơn... Bên cạnh đó, khi Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập các điều ước quốc tế, nghĩa vụ tôn trọng các cam kết quốc tế cũng thường đi tới việc nội luật hóa các cam kết quốc tế của nước ta. Đó cũng là một trong những con đường để du nhập pháp luật nước ngoài hoặc các chuẩn mực quốc tế vào hệ thống pháp luật Việt Nam.
Thực tế, trong nhiều Tờ trình dự án luật, cơ quan trình đã nêu rõ một trong những lý do phải bổ sung các quy định mới hoặc sửa đổi, bổ sung luật hiện hành là nhằm bảo đảm sự tương thích của pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế.
Như vậy, việc du nhập pháp luật nước ngoài hoặc các chuẩn mực pháp lý vốn tồn tại ngoài lãnh thổ Việt Nam vào hệ thống pháp luật trong nước là nhu cầu có thực. Việc tiếp nhận ấy được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau như bằng sự chủ động học hỏi của những cơ quan có thẩm quyền (có hoặc không có sự hỗ trợ về kỹ thuật của các dự án hợp tác quốc tế), hoặc bằng việc nội luật hóa các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập. Song, theo tôi, sự du nhập như vậy trước hết là do nhu cầu nội tại từ quá trình cải cách, đổi mới của đất nước, xuất phát từ lợi ích của đất nước và được thực hiện ở tâm thế chủ động.
Cơ sở thực tiễn của việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài ở Việt Nam
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta, dù là đổi mới về kinh tế hay pháp lý, thì cũng được xem là hiện tượng chưa có tiền lệ trong lịch sử. Nói chưa có tiền lệ, tức là nhấn mạnh tới tính mới của nó. Sau 3 thập niên đổi mới, chúng ta có thể thấy một bước tiến dài trong tư duy chỉ đạo phát triển kinh tế và tư duy quản trị quốc gia của Đảng, Nhà nước ta.
Xét về tổng thể, mô hình kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường định hướng XHCN đúng là chưa từng tồn tại ở Việt Nam. Các tài liệu quốc tế mà tôi tiếp cận được thì cũng chưa từng tồn tại mô hình nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Ở Trung Quốc, người ta xây dựng nền kinh tế thị trường XHCN (và được hiểu như một kiểu kinh tế thị trường mang đặc sắc Trung Quốc). Mặc dù vậy, đi vào từng thành tố, không phải mọi thứ đều là chưa có tiền lệ, đều là mới. Kinh tế thị trường định hướng XHCN thì trước hết cũng phải là kinh tế thị trường, nền kinh tế mà sự phân bổ các nguồn lực cơ bản, chủ yếu trong nền kinh tế ấy gồm có đất đai, lao động, vốn, công nghệ, hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng đều được thực hiện thông qua quan hệ cung cầu của thị trường. Đó cũng phải là nền kinh tế mà cạnh tranh trở thành yếu tố then chốt chi phối cơ chế phân bổ nguồn lực và cơ chế tiếp cận, tận dụng các cơ hội đàu tư, kinh doanh. Xét về khía cạnh ấy, sẽ là không hợp lý nếu chúng ta nói, đó đều là những trải nghiệm chưa có tiền lệ, hay là những trải nghiệm duy nhất mà chỉ có người Việt mới trải qua. Bởi vậy, nói cho đúng, việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là công việc có sự đan xen giữa những cái đã có tiền lệ (kinh tế thị trường) với những cái chưa có tiền lệ (định hướng XHCN; khi kinh tế thị trường gắn với định hướng XHCN). Có lẽ với cách nhận thức như thế, chúng ta mới lý giải được tại sao việc học tập kinh nghiệm nước ngoài là công việc có cơ sở mang tính khoa học, đồng thời mới lý giải được vì sao việc học tập kinh nghiệm nước ngoài nhưng vẫn phải là học tập có chọn lọc.
Cũng tương tự, với Nhà nước pháp quyền XHCN, việc quá nhấn mạnh rằng đây là mô hình quản trị nhà nước hoàn toàn không có tiền lệ cũng dễ đưa tới quan niệm cho rằng, Việt Nam không thể học được gì từ thế giới bên ngoài. Sự thực là, Nhà nước pháp quyền XHCN thì trước hết cũng phải là nhà nước pháp quyền, mà ở đó, yêu cầu đầu tiên đó là sự thượng tôn pháp luật, ở nơi đó, pháp luật không chỉ là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội mà còn là công cụ để nhân dân kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự được thực hiện, vận hành vì lợi ích công. Nhà nước ấy cũng chia sẻ mối ưu tư trong kinh nghiệm ngàn đời của những nền quản trị vững mạnh là làm sao để giữ ngay thẳng, liêm chính không chỉ trong dân chúng mà trước tiên là phải giữ được sự ngay thẳng, liêm chính ngay trong đội ngũ cầm quyền và lực lượng thân hữu của đội ngũ ấy. Điều ấy chỉ có thể có được khi yếu tố kiểm soát quyền lực phải là một trong những yếu tố cốt lõi trong nguyên lý tổ chức quyền lực nhà nước.
Vậy nên, thật không ngạc nhiên khi chúng ta thấy, quá trình đổi mới ở nước ta cũng là quá trình mà sự học hỏi của Việt Nam về thế giới bên ngoài lại nhiều đến vậy. Sự học hỏi ấy không chỉ để có hiểu biết đúng về thế giới bên ngoài để ứng xử phù hợp với thế giới bên ngoài ấy mà sự học hỏi ấy còn góp phần giúp giải quyết những vấn đề nội của đất nước. Mặt khác, càng trong quá trình hội nhập, mở cửa, càng thấy rõ thực tế là các nhà đầu tư, người lao động trong và ngoài nước ngày càng có nhiều chọn lựa trong việc tìm kiếm nơi đầu tư, nơi làm việc, nơi sinh sống. Quá trình lưu chuyển con người, lưu chuyển dòng vốn, lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ mang tính quốc tế ấy luôn đi kèm với việc nhà đầu tư, người lao động, cư dân của các nước so sánh, tìm hiểu, đánh giá về môi trường pháp lý của đất nước mà mình có quan hệ. Bởi vậy, thiết kế ra hệ thống pháp luật quá khác biệt, không thân thiện, không gần gũi với nhu cầu của các nhà đầu tư sẽ không phải là lựa chọn khôn ngoan để thu hút đầu tư quốc tế. Thực tế ấy đang đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật của Việt Nam không nên chỉ theo lăng kính của người thực hiện công việc quản lý nhà nước mà còn thông qua lăng kính của người hưởng thụ hệ thống pháp luật.
Luật Ban hành văn bản pháp luật mới cần đặt ra yêu cầu cao hơn cho những người làm công tác xây dựng pháp luật
Ở Việt Nam, việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài được thực hiện chủ yếu thông qua công tác xây dựng pháp luật. Tất nhiên, từ thực tiễn tham gia công tác xây dựng pháp luật, tôi nhận thấy khá rõ thực tế những người làm công tác xây dựng pháp luật khi tham khảo kinh nghiệm quốc tế không phải hướng tới mục tiêu làm sao để luật của Việt Nam giống với luật của nước A hay nước B. Chúng ta đã có nhu cầu đổi mới, phát triển đất nước, để các mục tiêu về phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường ngày càng sớm được hiện thực hóa. Theo đó, Việt Nam tiến từ quốc gia kém phát triển, đến quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp, vươn dần lên thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Vấn đề chính mà những người xây dựng pháp luật lưu tâm là làm sao để pháp luật Việt Nam phù hợp với thực tế Việt Nam, giải quyết được các vấn đề của Việt Nam. Mặc dù vậy, vẫn có không ít trường hợp, pháp luật Việt Nam được ban hành chưa đáp ứng được yêu cầu và mong muốn. Tình trạng nhiều văn bản pháp luật Việt Nam bị sửa đổi, bổ sung liên tục hoặc không ít quy định trong pháp luật Việt Nam khá kém hiệu lực là một bằng chứng cho thấy khoảng cách không nhỏ giữa pháp luật trên giấy với yêu cầu, thực tiễn cuộc sống ở Việt Nam.
Việc QH đang xem xét sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành nhằm góp phần khắc phục những vấn đề như vậy. Một trong những điểm sửa đổi căn bản và đáng chú ý vào bậc nhất là việc đề cao yêu cầu về phân tích, hoạch định chính sách trước khi tiến hành quy phạm hóa. Điều này có nghĩa rằng, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới đặt ra yêu cầu cao hơn cho những người làm công tác xây dựng pháp luật, đối với những cơ quan đề xuất xây dựng pháp luật. Chẳng hạn, trước khi muốn đề xuất xây dựng một Luật mới hoặc sửa đổi, bổ sung một đạo luật hiện hành thì chủ thể đề xuất ấy phải làm rõ: vấn đề gì của thực tiễn đang đòi hỏi phải được giải quyết bằng cách ban hành luật mới hoặc sửa đổi, bổ sung đạo luật hiện hành? Vấn đề ấy do nguyên nhân nào gây ra (nhất là do nhóm hành vi của chủ thể/nhóm chủ thể nào gây ra) và nguyên nhân ấy có thể thay đổi được bằng cách ban hành luật mới hoặc sửa đổi, bổ sung luật hiện hành không? Có những phương án nào để xử lý vấn đề ấy? Tác động về chi phí/lợi ích của từng phương án ra sao? Phương án nào là phương án tối ưu?... Nói cách khác, việc đổi mới quy trình xây dựng lần này là hướng tới việc thiết lập quy trình xây dựng pháp luật với tư cách là một quá trình ra quyết định dựa trên bằng chứng thực tiễn, bảo đảm mọi quyết định được đưa ra là quyết định có đầy đủ thông tin.
Và trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, kinh nghiệm quốc tế là quan trọng. Nếu chứng minh được rằng, chúng ta gặp vấn đề tương tự như các nước đã từng gặp phải và quốc tế đã có kinh nghiệm xử lý thì việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế là điều rất đáng thực hiện. Kinh nghiệm quốc tế ấy cần được đưa vào từ công đoạn hoạch định chính sách. Chính vì thế, sẽ là lý tưởng nếu trong thực tiễn, bên cạnh các loại tài liệu mà Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật yêu cầu khi chuẩn bị một đề xuất xây dựng luật hoặc khi chuẩn bị một dự thảo luật, rất nên có báo cáo nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc xử lý vấn đề tương tự. Đây là điều trong thực tế, nhiều cơ quan soạn thảo đã làm nhưng do thiếu phương pháp xây dựng nên một số báo cáo này mới thiên về khía cạnh cung cấp một số thông tin mang tính khá tản mạn về pháp luật nước ngoài (và thường chỉ là pháp luật trên giấy chứ không phải những câu chuyện về thành công và thất bại trong thực tiễn áp dụng). Một nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế được trang bị bằng phương pháp luận luật so sánh phù hợp dựa trên những hiểu biết đúng đắn về lý thuyết tiếp nhận pháp luật nước ngoài sẽ là nguồn thông tin quan trọng trong quá trình hoạch định chính sách. Tuy nhiên, cần tránh đối xử với kinh nghiệm quốc tế theo kiểu: kinh nghiệm quốc tế nào giống hướng mà cơ quan trình dự án luật định luận giải thì làm thật đậm lên, còn kinh nghiệm quốc tế nào khác với hướng mình định luận giải thì bỏ qua hoặc chỉ đề cập một cách mờ nhạt.
Thêm vào đó, để có được phương pháp lý luận đúng khi tiếp nhận pháp luật nước ngoài, công tác tập huấn về phương pháp nghiên cứu, phân tích kinh nghiệm quốc tế trong quá trình xây dựng pháp luật cũng nên được các cơ quan có thẩm quyền quan tâm thực hiện. Công tác đào tạo về pháp luật so sánh hiện nay ở các cơ sở đào tạo cũng cần được đổi mới, cập nhật cho kịp thời, không nên chỉ dừng lại ở việc thông tin về sự giống và khác nhau giữa các truyền thống pháp luật về một số vấn đề cơ bản (sở hữu, hợp đồng, thừa kế, hình sự, tố tụng, hiến pháp...) mà cần quan tâm hơn tới việc tìm hiểu, truyền bá các lý thuyết về chuyển hóa pháp luật nước ngoài và cách ứng dụng các lý thuyết ấy vào công tác xây dựng pháp luật.
Làm được như thế, tôi tin rằng sẽ góp một phần quan trọng đối với việc tiếp tục cải thiện chất lượng công tác lập pháp và công tác xây dựng pháp luật ở nước ta hiện nay.
TS. Nguyễn Văn Cương
Theo: daibieunhandan.vn
[1810]
Tiếp thu ở thế chủ động và vì lợi ích đất nướcSự du nhập pháp luật nước ngoài vào Việt Nam do nhu cầu nội tại từ quá trình đổi mới, xuất phát từ lợi ích của đất nước và được thực hiện ở  thế chủ động Bản thân nguồn gốc ngoại của quy phạm pháp luật không phải là rào cản đối với sự tiếp nhận. Ngay
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
TIN MỚI NHẤT
Một số giải pháp nâng cao đạo đức công chức
Vượt qua rào cản từ nhận thức khi triển khai dịch vụ công trực tuyến mức 3 cấp xã
Một số ý kiến về việc thực hiện cơ chế “phân cấp” theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
Các tin khác
Tin hoạt động Tổ chức nhà nước
(08/12/2016 05:18)
Bế giảng lớp bồi dưỡng ngạch Chuyên viên chính khoá 35 và Chuyên viên khóa 37
Sáng 08/12/2016, tại Hà Nội, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức - Bộ Nội vụ tổ chức Lễ Bế giảng 02 lớp bồi dưỡng  ...
Tin mới nhất

Hội nghị cán bộ toàn quốc phổ biến, quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Không đơn thuần là thất thoát ngân sách

Năm 2018: 80% thủ tục xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh qua Một cửa quốc gia

Bế giảng lớp bồi dưỡng ngạch Chuyên viên chính khoá 35 và Chuyên viên khóa 37

Tổ chức lớp Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng nghiên cứu khoa học năm 2016

Bàn về thi tuyển các chức danh công chức lãnh đạo hiện nay

Kỷ cương và đồng hành

Tin xem nhiều

Quản lý nhà nước về kinh tế - một số vấn đề đặt ra trước yêu cầu đổi mới

Xác định chức danh của những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

Một số vấn đề về chính sách công ở Việt Nam hiện nay

Chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 2013 và việc xây dựng Luật về hoạt động của Chủ tịch nước

Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp huyện, cấp xã

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay

Bàn về pháp chế xã hội chủ nghĩa trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tổng Biên tập: Nguyễn Đức Tuấn
Trụ sở tòa soạn: Số 8 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0804 6422, 0804 6543; Fax: 0804 6621 - Email: Tapchitcnn@moha.gov.vn
Bản quyền thuộc Tạp chí Tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ
Giấy phép xuất bản: Số 407/GP-BTTT ngày 27/9/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

®Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước là cơ quan báo chí của Bộ Nội vụ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.